Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn của Thủ tướng

Chiều 21/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khoá XIII. Báo điện tử Ninh Thuận trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo của Thủ tướng.

 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn
trước Quốc hội, chiều 21/11. (Ảnh: Chinhphu.vn)

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, các vị khách quý,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng chí, đồng bào,

Thay mặt Chính phủ, tôi xin cảm ơn Quốc hội đã cơ bản đồng tình với các Báo cáo của Chính phủ và đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2014.

Chính phủ xin nghiêm túc tiếp thu ý kiến xác đáng của các vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước, tiếp tục phát huy những tiến bộ, kết quả đã đạt được, ra sức khắc phục những hạn chế yếu kém, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý điều hành, nỗ lực cao nhất để cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Quốc hội.

Tại Kỳ họp này, các vị đại biểu Quốc hội đã gửi 154 phiếu chất vấn đến các thành viên Chính phủ; trong đó, có 6 phiếu chất vấn Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các thành viên Chính phủ theo chức năng nhiệm vụ được giao trả lời bằng văn bản gửi đến các vị đại biểu Quốc hội. Hai ngày qua, đã có 3 Bộ trưởng trực tiếp và 11 thành viên Chính phủ tham gia trả lời chất vấn tại Hội trường.

Thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo, giải trình thêm một số vấn đề mà nhiều đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri quan tâm, chất vấn.

I. VỀ CẬP NHẬT TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ NHIỆM VỤ CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH ĐẾN CUỐI NĂM

Đầu kỳ họp, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội kết quả kinh tế, xã hội 9 tháng đầu năm 2013. Trong tháng 10 và tháng 11, tình hình kinh tế xã hội chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô tiếp tục được cải thiện. Lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,49%, tháng 11 tăng 0,4%, 11 tháng tăng 5,54%, ước cả năm tăng 6,2-6,3%, đây là mức tăng thấp trong 10 năm qua.

Dư nợ tín dụng đến hết tháng 11 tăng khoảng 9%, có khả năng cả năm đạt 11-12%. Mặt bằng lãi suất tiếp tục ổn định. Xuất khẩu 11 tháng đạt gần 120 tỷ USD, tăng 15,1%; nhập khẩu đạt khoảng 120,3 tỷ USD, tăng 15,9%. Nhập siêu gần 290 triệu USD, bằng 0,24% tổng kim ngạch xuất khẩu. Vốn FDI đăng ký 11 tháng đạt trên 20 tỷ USD, tăng 49%; vốn thực hiện đạt khoảng 10,55 tỷ USD, tăng 6%. Vốn ODA ký kết đạt 4,6 tỷ USD, tăng 14,1%; giải ngân đạt 4,04 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ. Thu ngân sách Nhà nước đến hết tháng 11 đạt khoảng 86% dự toán, tăng 10,6%; chi ngân sách đạt 87% dự toán, tăng 8,1% so với cùng kỳ; cố gắng phấn đấu đạt kế hoạch thu, chi ngân sách cả năm.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 11 tăng 6%; 11 tháng tăng 5,5%. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục ổn định, ước cả năm giá trị sản xuất tăng 2,73%. Tổng mức luân chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,57% (loại trừ yếu tố giá tăng khoảng 5,7%). Khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng 6,8 triệu lượt, tăng 12%. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 11 tháng tăng 9,3%; có hơn 12.600 doanh nghiệp hoạt động trở lại. An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm. Tạo việc làm cho trên 1,4 triệu người, đạt gần 88% kế hoạch năm.

Thời gian qua, nhiều cơn bão lớn đổ bộ vào nước ta (bình quân 50 năm qua mỗi năm có 7,5 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, trong năm nay đến tháng 11, đã có 19 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động ở Biển Đông, trong đó 12 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta). Chúng ta đã chỉ đạo làm tốt công tác dự báo và đã chủ động kịp thời huy động các lực lượng với các giải pháp phù hợp để giảm thấp nhất thiệt hại; khẩn trương khắc phục hậu quả của bão lũ, hỗ trợ gia đình người bị nạn, hỗ trợ lương thực, nhà ở, khôi phục sản xuất, hạ tầng kinh tế - xã hội và sớm ổn định đời sống của nhân dân. Đồng thời đã chỉ đạo rà soát bổ sung chiến lược, kế hoạch phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.

Với những kết quả nêu trên, có cơ sở để chúng ta phấn đấu đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ năm 2013 mà Chính phủ đã báo cáo Quốc hội tại phiên khai mạc kỳ họp. Để hoàn thành cao nhất kế hoạch năm 2013 và chuẩn bị cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2014, từ nay đến cuối năm chúng ta phải nỗ lực phát huy kết quả đạt được, kiên định thực hiện các giải pháp đã đề ra. Tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng an ninh. Chủ động cân đối cung cầu, bảo đảm đủ các mặt hàng thiết yếu, không để biến động lớn về thị trường, giá cả và chuẩn bị tốt các điều kiện để mọi người dân, nhất là gia đình chính sách, hộ nghèo, đồng bào ở những vùng bị thiên tai đón Tết vui tươi lành mạnh, an toàn, tiết kiệm.

II. VỀ LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI NĂM 2014

Chính phủ sẽ khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết của Quốc hội đã đề ra và xin báo cáo giải trình thêm một số vấn đề sau đây:

1. Kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng hợp lý

Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo điều hành đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và giá các hàng hóa dịch vụ do Nhà nước quy định để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô cả trước mắt và trong trung hạn. Đồng thời đẩy mạnh cải cách thể chế, thủ tục hành chính và môi trường đầu tư kinh doanh, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Về tăng bội chi ngân sách Nhà nước và phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ: Chính phủ đã trình và được Quốc hội đồng ý mức bội chi ngân sách năm 2014 là 5,3% GDP (224 nghìn tỷ đồng) và phát hành thêm 170 nghìn tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014-2016.

Việc tăng bội chi ngân sách dành một phần để trả nợ, phần còn lại và trái phiếu Chính phủ bổ sung được tập trung vào đầu tư các dự án hạ tầng kinh tế-xã hội thiết yếu, hoàn thành nhiều công trình đang đầu tư dở dang, bổ sung vốn đối ứng ODA, đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. Qua đó góp phần khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải kéo dài kém hiệu quả, xử lý nợ đọng trong xây dựng cơ bản, giải quyết nợ xấu; tăng giải ngân vốn ODA, thu hút mạnh hơn các nguồn vốn xã hội cho đầu tư phát triển, bảo đảm được tổng vốn đầu tư toàn xã hội bằng khoảng 30-31% GDP, đồng thời góp phần tháo gỡ khó khăn, phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động; và góp phần quan trọng vào việc tăng năng lực sản xuất, thực hiện đột phá trong xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ theo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-20201.

Trái phiếu Chính phủ sẽ được phát hành phù hợp theo tiến độ giải ngân các dự án và thực trạng tình hình kinh tế vĩ mô. Việc sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ được quản lý chặt chẽ, bảo đảm hiệu quả đồng thời với việc thực hiện phù hợp chính sách tiền tệ, nhất là kiểm soát tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán hợp lý, không làm tăng quá mức tổng cầu. Với các giải pháp nêu trên sẽ góp phần quan trọng kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và phục hồi tăng trưởng.

Với mức bội chi và phát hành trái phiếu bổ sung như đã nêu trên, nợ công trong các năm 2014, 2015 và 2016 vẫn trong giới hạn an toàn (không quá 65% GDP)2. Tuy nhiên, áp lực trả nợ rất lớn. Cùng với việc bố trí nguồn từ ngân sách Nhà nước để trả nợ, cần phát hành mới để đảo nợ đối với một phần nợ gốc trái phiếu Chính phủ đến hạn, bảo đảm duy trì thanh khoản, giảm thiểu rủi ro tái cấp vốn và không làm tăng dư nợ gốc trái phiếu Chính phủ. Qua đó sẽ bảo đảm duy trì các chỉ tiêu trả nợ trực tiếp của Chính phủ năm 2014 ở mức 15,2%, năm 2015 khoảng 20,4% và năm 2016 khoảng 22,9% tổng thu ngân sách, nằm trong giới hạn cho phép là không quá 25% tổng thu ngân sách Nhà nước theo Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia đã được phê duyệt.

Với tình hình nêu trên, nợ công của nước ta vẫn trong giới hạn an toàn (Ngân hàng Thế giới và nhiều tổ chức tài chính quốc tế đánh giá nợ công của Việt Nam là an toàn và ổn định3). Tuy nhiên, đây là vấn đề hệ trọng, ảnh hưởng đến sự an toàn của nền tài chính quốc gia. Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp, nhất là quản lý sử dụng có hiệu quả vốn vay, quản lý tốt nợ trung hạn và quỹ tích lũy trả nợ, quản lý và xử lý kịp thời rủi ro... bảo đảm thực hiện đúng Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia.

Về xử lý nợ xấu: Đã tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để xử lý nợ xấu và đạt được kết quả bước đầu. Đã xử lý được trên 101 nghìn tỷ đồng nợ xấu bằng dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng. Công ty Quản lý tài sản (VAMC) dự kiến đến hết năm 2013 mua khoảng 30-35 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Tốc độ tăng nợ xấu đã chậm lại4. Tình hình tài chính, thanh khoản của các tổ chức tín dụng được cải thiện, lành mạnh hơn; tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (13,7%) cao hơn nhiều so với quy định (9%).

Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu còn cao, đến cuối tháng 9/2013 là 4,62%5. Việc xử lý nợ xấu còn gặp nhiều khó khăn. Cơ chế chính sách xử lý tài sản bảo đảm tiền vay còn nhiều vướng mắc; thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán phục hồi chậm nên rất khó bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Chưa có cơ chế hiệu quả để các doanh nghiệp, khách hàng vay vốn có trách nhiệm tham gia xử lý nợ xấu.

Thời gian tới, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp để xử lý nợ xấu, nhất là việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay; trích lập dự phòng rủi ro; cơ cấu lại nợ vay; nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu gia tăng; tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra bảo đảm công khai minh bạch hoạt động của các tổ chức tín dụng. Đồng thời, phát huy vai trò của Công ty Quản lý tài sản (trong năm 2014 xử lý khoảng 100-150 nghìn tỷ đồng nợ xấu của các tổ chức tín dụng). Phấn đấu đến hết năm 2015 xử lý được số nợ xấu hiện nay, đưa hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động lành mạnh, an toàn.

Thực hiện đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các giải pháp nêu trên, mục tiêu tăng GDP khoảng 5,8% năm 2014, khoảng 6% năm 2015 và kiểm soát lạm phát khoảng 7% là khả thi; đồng thời giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm nợ công trong giới hạn an toàn, trả được nợ và có thêm nguồn lực để đầu tư hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh như đã báo cáo Quốc hội.

2. Đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng

Chính phủ xin tiếp thu những ý kiến phù hợp của các vị đại biểu Quốc hội về các nội dung này và xin báo cáo giải trình thêm như sau:

Về tái cơ cấu đầu tư công: Tiếp tục thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn, nâng cao hiệu quả đầu tư công, khắc phục đầu tư dàn trải, lãng phí theo Chỉ thị số 1792/CT-TTg và triển khai Luật Đầu tư công. Rà soát các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước, vốn ODA, vốn tín dụng đầu tư phát triển và các khoản vay được Nhà nước bảo lãnh để tập trung đầu tư các công trình, dự án quan trọng thiết yếu, có sức lan tỏa lớn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư của xã hội. Bảo đảm các dự án đầu tư phải theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt gắn với trách nhiệm của người ra quyết định đầu tư và chủ đầu tư.

Về tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước: Như đã trình bày trong báo cáo đầu kỳ họp, quán triệt tinh thần các Nghị quyết của Đảng, Kết luận của Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy và tập trung chỉ đạo hoàn thiện thể chế, tăng cường quản lý Nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước6. Đã quy định rõ việc phân công, phân cấp thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước và vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho việc đổi mới tổ chức quản lý và giám sát tại doanh nghiệp Nhà nước. Đã phê duyệt và triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu và điều lệ tổ chức, hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước7.

Trong bối cảnh có nhiều khó khăn, năm 2012-2013 các doanh nghiệp Nhà nước đã có nhiều cố gắng thực hiện nhiệm vụ được giao, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế. Doanh nghiệp Nhà nước đóng góp khoảng 30% thu ngân sách Nhà nước và trên 33% GDP. Trên 80% doanh nghiệp Nhà nước có lãi và 11,7% doanh nghiệp lỗ. Năm 2012, vốn chủ sở hữu tăng 26% so với năm 2011; tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu là 16,37%, trong đó của các tập đoàn, tổng công ty là 16,94%. Tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu là 1,52 lần, trong đó của các tập đoàn, tổng công ty là 1,46 lần, nằm trong giới hạn cho phép (3 lần).

Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo khắc phục những hạn chế, yếu kém, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn và tổng công ty. Đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo nguyên tắc thị trường và lộ trình đã được phê duyệt. Giảm và bán toàn bộ vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần chi phối. Kiện toàn cán bộ lãnh đạo và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, nhất là các tập đoàn, tổng công ty. Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra của chủ sở hữu Nhà nước. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, công ích. Thực hiện công khai minh bạch kết quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế.

Về tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới: Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ sẽ chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp như đã báo cáo Quốc hội để thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu nông nghiệp và Chương trình xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt là tập trung thực hiện các giải pháp để đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào nông nghiệp và hình thành chuỗi giá trị, bảo đảm hài hòa lợi ích từ nuôi trồng, chế biến đến tiêu thụ nông sản với các hình thức hợp tác, liên kết phù hợp. Có chính sách thu hút mạnh đầu tư sản xuất công nghiệp và dịch vụ ở địa bàn nông thôn, thu hút và giảm nhanh lao động từ nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế nông thôn. Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 và Nghị quyết của Quốc hội, ưu tiên bố trí vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và tăng cường huy động các nguồn vốn xã hội đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2009-2013 khoảng 750 nghìn tỷ đồng; trong đó Nhà nước đã đầu tư trên 520 nghìn tỷ đồng, chiếm 51,7% tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ, tăng hơn 2,6 lần so với 5 năm trước, vượt mục tiêu Nghị quyết Trung ương 7 đề ra là tăng 2 lần (giai đoạn 2004-2008 đầu tư trên 198 nghìn tỷ đồng, bằng 41,8% tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ). Dư nợ tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn tính đến tháng 10/2013 khoảng gần 800 nghìn tỷ đồng, tăng gần 2,6 lần so với năm 2008. Ngoài ra, hàng năm Nhà nước còn chi thêm 7-8 nghìn tỷ đồng từ dự phòng ngân sách Trung ương để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh. Thời gian tới, Chính phủ tiếp tục ưu tiên bố trí vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng Nhà nước và tăng cường huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Về an toàn hồ chứa nước: Hiện nay, cả nước có gần 7.000 hồ chứa thủy lợi, thủy điện đang hoạt động. Trong số đó có nhiều hồ đã được xây dựng từ 30-40 năm trước, không còn phù hợp với tình hình bão lũ phức tạp hiện nay, không bảo đảm an toàn, cần sửa chữa nâng cấp. Đối với các hồ thủy điện, Chính phủ đã chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy định an toàn và trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp hồ chứa.

Đối với hồ thủy lợi, thực hiện Chương trình bảo đảm an toàn hồ chứa mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt, đã đầu tư sửa chữa, nâng cấp được gần 500 hồ. Còn 317 hồ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa lũ. Năm 2013, đã bố trí kinh phí sửa chữa, nâng cấp 91 hồ. Năm 2014-2015 sẽ rà soát lại và bố trí vốn để nâng cấp, sửa chữa số hồ có nguy cơ mất an toàn.

Cùng với việc sửa chữa, nâng cấp các hồ chứa, Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo thực hiện các quy định về xây dựng và tổ chức thực hiện quy trình vận hành hồ chứa và liên hồ chứa. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh mục 61 hồ thủy lợi, thủy điện thuộc 11 lưu vực sông phải xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa. Đến nay, 20 hồ thuộc 5 lưu vực sông đã được phê duyệt quy trình vận hành liên hồ chứa. Phấn đấu đến cuối năm 2014 hoàn thành việc phê duyệt quy trình vận hành liên hồ chứa đối với 41 hồ thuộc 6 lưu vực sông còn lại. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị yêu cầu các bộ ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp tăng cường công tác quản lý, bảo đảm an toàn hồ chứa.

Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường: Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là tạo môi trường bình đẳng, thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển. Hình thành đồng bộ và bảo đảm vận hành thông suốt các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, lao động, khoa học công nghệ, bất động sản... Kiên định thực hiện giá thị trường đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu theo lộ trình phù hợp đi đôi với việc hỗ trợ người có thu nhập thấp, hộ nghèo. Đồng thời, tăng cường tổ chức thực thi thể chế, phổ biến giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống.

Đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách chế độ công vụ công chức, xây dựng một nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả. Tập trung cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, hải quan, thành lập và giải thể doanh nghiệp, tiếp cận vốn, đất đai, tài nguyên, giấy tờ công dân... để tạo mọi thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân. Thiết lập hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý kiến nghị về các quy định, tình hình và kết quả giải quyết thủ tục hành chính các cấp. Xử lý nghiêm cán bộ, công chức có hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu trong thực thi công vụ.

Rà soát, sửa đổi bổ sung cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả các Hiệp định thương mại đã ký kết. Đồng thời chủ động tích cực đàm phán, ký kết các Hiệp định mới để mở rộng thị trường, tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.

3. Về các vấn đề xã hội

Chính phủ xin tiếp thu ý kiến xác đáng của các vị đại biểu Quốc hội đối với các vấn đề xã hội và xin báo cáo giải trình thêm hai vấn đề như sau:

Về giảm nghèo ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số: Giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là một nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế-xã hội. Chúng ta đã có nhiều chính sách, ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực của toàn xã hội để giảm nghèo. Giai đoạn 2011-2013 bình quân mỗi năm đã chi khoảng 120 nghìn tỷ đồng cho giảm nghèo, tăng 1,5 lần so với giai đoạn 2008-2011. Bình quân mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo giảm trên 2%, riêng các huyện nghèo giảm trên 4%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% năm 2010 xuống còn 7,8% năm 2013 theo chuẩn nghèo quốc gia. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện.

Tuy nhiên kết quả giảm nghèo vẫn chưa đồng đều, bền vững. Số hộ cận nghèo và nguy cơ tái nghèo còn cao. Mặc dù tốc độ giảm hộ nghèo ở các huyện nghèo nơi tập trung đồng bào dân tộc thiểu số đạt gấp đôi tốc độ giảm bình quân cả nước nhưng tỷ lệ hộ nghèo khu vực đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, nhiều nơi lên tới trên 50%.

Nhiệm vụ giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Chính phủ sẽ thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách đã ban hành, trong đó tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp hỗ trợ để tăng khả năng tiếp cận và bảo đảm mức tối thiểu về dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, thông tin, trợ giúp pháp lý; phát triển sản xuất thông qua các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, tín dụng ưu đãi, dạy nghề, khuyến nông - lâm - ngư; phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Đồng thời tiếp tục rà soát, bổ sung cơ chế chính sách nhằm giảm nghèo bền vững, chống tái nghèo và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Về giảm quá tải bệnh viện và nâng cao y đức: Tình trạng quá tải chủ yếu ở các bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến cuối, nhất là các bệnh viện chuyên khoa ung bướu, tim mạch, chấn thương chỉnh hình, sản, nhi.

Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp để giảm quá tải bệnh viện. Nhiều bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến huyện, tuyến tỉnh và trung ương đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới9. Đã thành lập 08 bệnh viện quân - dân y. Triển khai rộng rãi mô hình điều trị theo hình thức bệnh viện (khoa, phòng khám) vệ tinh10. Thực hiện tăng cường cán bộ để hỗ trợ và chuyển giao kỹ thuật khám chữa bệnh cho tuyến dưới11. Đồng thời tạo điều kiện cho khu vực y tế tư nhân tham gia công tác khám chữa bệnh. Tình trạng quá tải bước đầu đã được cải thiện ở một số bệnh viện nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu bức xúc của xã hội như nhiều đại biểu Quốc hội đã nêu.

Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải bệnh viện theo Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Khẩn trương chuẩn bị để sớm khởi công trong năm 2014 xây dựng mới 05 bệnh viện Trung ương và tuyến cuối hiện đại với quy mô 4.500 giường12. Việc hoàn thành 05 bệnh viện này cùng với việc nâng cấp, mở rộng các bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến cuối hiện có sẽ tạo chuyển biến mạnh khắc phục tình trạng quá tải, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh kỹ thuật cao, đồng thời làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cho tuyến dưới, nâng cao năng lực điều trị và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Hiện nay ngành Y tế có hơn 500.000 cán bộ nhân viên, trong đó có trên 60.000 bác sỹ. Hầu hết cán bộ y tế có tâm huyết với nghề, có trách nhiệm với người bệnh và đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhiều giáo sư, bác sỹ, thầy thuốc giỏi, có uy tín, được nhân dân và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Tuy nhiên, vẫn còn cán bộ y tế suy thoái về đạo đức, vi phạm pháp luật, gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng đến hình ảnh của người thầy thuốc và uy tín của ngành Y tế. Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo Bộ Y tế, các bộ ngành liên quan và chính quyền địa phương nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước, rà soát hoàn thiện các thể chế, cơ chế chính sách và tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Đồng thời đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao đạo đức phẩm chất, y đức của đội ngũ cán bộ y tế. Kiên quyết đưa ra khỏi ngành những cá nhân không còn xứng đáng đứng trong đội ngũ thầy thuốc.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thay mặt Chính phủ, tôi xin trân trọng tiếp thu những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm, xác đáng của các vị đại biểu Quốc hội và xin báo cáo giải trình thêm về những vấn đề nêu trên.

Chính phủ sẽ làm hết sức mình, quyết liệt hành động để cùng cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 theo Kết luận của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quốc hội. Chính phủ rất mong nhận được sự ủng hộ và giám sát của các vị đại biểu Quốc hội và đồng chí, đồng bào cả nước.

Xin cảm ơn Quốc hội,

Sau đây, tôi xin trả lời chất vấn của các vị đại biểu./.

========

Chú thích

1 Đến cuối năm 2016, dự kiến hoàn thành đưa vào sử dụng 78,4% (655/835) số công trình, dự án có nhu cầu bổ sung vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014-2016.

2 Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2011-2015 đã quy định chỉ tiêu nợ công đến năm 2015 không quá 65% GDP.

3 Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín trên thế giới như Moody’s, Standard & Poor và Fitch đều xếp hạng nợ công của Việt Nam ở mức ổn định.

4 Tốc độ gia tăng nợ xấu giảm còn bình quân 2,2%/tháng trong 9 tháng đầu năm 2013 so với mức bình quân 3,91%/tháng cùng kỳ.

5 Số liệu báo cáo của Ngân hàng Nhà nước.

6 Đã ban hành: (1) Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; (2) Quyết định số 35/2013/QĐ-TTg ngày 07/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế hoạt động của Kiểm soát viên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; (3) Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày 25/6/2013 của Chính phủ về quy chế giám sát tài chính và đánh giá kết quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước; (4) Nghị định số 71/2013/NĐ-CP ngày 11/7/2013 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; (5) Nghị định số 50/2013/NĐ-CP​ ngày 14/5/2013 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; (6) Nghị định số 51/2013/NĐ-CP ​ngày 04/5/2013 của Chính phủ quy định chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Phó tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc, Kế toán trưởng trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; (7) Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc; (8) Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 về cơ chế giao nhiệm vụ và tham gia thực hiện cung cấp và bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ công ích, thiết yếu của nền kinh tế.

Sẽ ban hành: (1) Nghị định về thành lập, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; (2) Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần; đang xin ý kiến thành viên Chính phủ về (3) Nghị định thay thế Nghị định số 101/2006/NĐ-CP về đăng ký lại và chuyển đổi doanh nghiệp, (4) Nghị định về Điều lệ mẫu của Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu; các Bộ đang hoàn thiện các Đề án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về: (5) Tổ chức, quản lý, hoạt động và giám sát đối với tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; (6) Nghị định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của SCIC; (7) Quy chế thí điểm chuyển đổi công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp có thu thành công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu; (8) Quyết định về quy chế đánh giá việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN; (9) Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật hợp tác xã; (10) Nghị định quy định chế độ giám sát, kiểm tra việc thực hiện chiến lược, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ được giao của doanh nghiệp; (11) Nghị định về sửa đổi, bổ sung quy định về bán, giao DNNN; (12) Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg về tiêu chí, danh mục phân loại DNNN; (13) Quy chế công bố thông tin về hoạt động của các công ty TNHH do Nhà nước làm chủ sở hữu; (14) Quy chế quản trị công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu.

7 Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã phê duyệt Đề án tái cơ cấu của 68/109 tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trong đó: Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án của 19/21 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; quyết định dừng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế đối với 2 tập đoàn trong ngành xây dựng và Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Các Bộ đã phê duyệt 39 Đề án, các địa phương phê duyệt 10 đề án của các tổng công ty nhà nước trực thuộc. Đến ngày 04/10/2013, Bộ Thông tin và Truyền thông là đơn vị cuối cùng trong cả nước đã trình Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Hiện vẫn còn một số Bộ, địa phương chưa hoàn thành phê duyệt Đề án tái cơ cấu các tổng công ty nhà nước trực thuộc như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng,… Đến nay đã có 12/14 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đặc biệt quan trọng trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định về Điều lệ tổ chức và hoạt động.

8 Từ đầu năm 2013 đến nay, đã ban hành Chiến lược quốc gia bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Đề án Giảm quá tải bệnh viện 2013-2020, Đề án thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và đến năm 2020, Đề án phát triển y tế biển, đảo đến năm 2020, Chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sơ khám bệnh, chữa bệnh, Chế độ hỗ trợ 100% mệnh giá bảo hiểm y tế cho một số nhóm đối tượng hộ gia đình cận nghèo, Quy trình khám chữa bệnh, Đề án khuyến khích đào tạo và phát triển nhân lực y tế các chuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y và giải phẫu bệnh 2013-2020, Dự án thí điểm đưa bác sĩ trẻ tình nguyện về công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, Đề án bệnh viện vệ tinh 2013-2020 (tập trung vào 5 chuyên khoa quá tải như ung bướu, ngoại chấn thương, tim mạch, sản, nhi), Đề án xây dựng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình 2013-2020…

9 Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, Bệnh viện Tâm thần Ninh Bình, Bệnh viện Tâm thần Hà Nam, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Điện Biên; cải tạo mở rộng Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận, Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An, Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Thái Bình, Hậu Giang… Có hơn 300 bệnh viện, hơn 100 phòng khám đa khoa tuyến huyện đã được hoàn thành.

10 Mô hình điều trị theo hình thức bệnh viện, khoa, phòng khám vệ tinh đang được áp dụng tại các Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện K, Bệnh viện Chợ Rẫy…

11 Năm 2012 đã cử 2.500 lượt cán bộ tuyến trên hỗ trợ và chuyển giao cho tuyến dưới. Chuyển giao kỹ thuật cho các tuyến dưới, 10 bệnh viện đầu ngành đã chuyển giao gần 6.700 kỹ thuật và luân phiên khám, điều trị cho hơn 1,1 triệu lượt bệnh nhân, thực hiện hơn 23 nghìn ca phẫu thuật. Đồng thời tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia tích cực công tác khám chữa bệnh, năm 2012 có thêm 05 bệnh viện tư nhân đi vào hoạt động, nâng tổng số giường bệnh của khu vực tư nhân lên trên 11.000 giường (chiếm 4,8% tổng số giường bệnh trong cả nước).

12 Đến năm 2016 hoàn thành việc xây mới, đưa vào sử dụng 05 bệnh viện: Việt Đức cơ sở 2, Bạch Mai cơ sở 2, Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhi đồng và Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh với tổng số 4.500 giường bệnh.

Nguồn www.chinhphu.vn