Người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam

Mùa xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Ðảng Cộng sản Việt Nam. Đây là đóng góp to lớn có tính bước ngoặt tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho Việt Nam. Không chỉ là người sáng lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng và rèn luyện Đảng ta thành một đảng kiên cường, giàu bản lĩnh và kinh nghiệm trong lãnh đạo cách mạng cũng như xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh.

Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam

Năm 1911, khi vừa tròn 21 tuổi, từ bến cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành tạm biệt quê hương yêu dấu đi tìm đường cứu nước. Sau hơn nửa thập kỷ tìm tòi, nghiên cứu, Người đã đến với ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917). Đến năm 1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Người đã thấy được cốt lõi trong tư tưởng của Lênin về đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, từ đó tìm ra con đường giành độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam.

Người chỉ rõ: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” (1). Sau này, trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, gửi cho báo Pravđa (Liên Xô), Người tiếp tục khẳng định “chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công” (2).

Bác Hồ với các anh hùng và chiến sĩ miền Nam. Ảnh tư liệu

Ngay sau khi tìm ra hướng đi, Người tích cực chuẩn bị đầy đủ các yếu tố về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc ra đời Ðảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1921 đến cuối năm 1924, Người chủ yếu chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng thông qua việc tập trung truyền bá lý luận Mác - Lênin vào giai cấp công nhân (GCCN) và các tầng lớp trí thức yêu nước. Từ năm 1925 trở đi, Người bắt đầu xây dựng tổ chức. Trước hết, Người thành lập một tổ chức tiền thân của Ðảng Cộng sản, đó là Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, hạt nhân là Cộng sản đoàn. Tiếp đến, Người mở lớp huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Những cán bộ này sau khi nắm được những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trở về nước, thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, thực hiện "vô sản hóa". Nhờ thấm nhuần tư tưởng cách mạng tiên tiến nhất của thời đại, phong trào công nhân đã chuyển dần từ "tự phát" sang "tự giác", đặc biệt, GCCN đã giác ngộ về sự cần thiết phải có Ðảng Cộng sản lãnh đạo.

Cuối những năm 20 của thế kỷ XX, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập: Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng ở Nam Kỳ, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ở Trung Kỳ. Tuy nhiên, sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia là nguy cơ dẫn đến chia rẽ trong phong trào công nhân, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Yêu cầu bức thiết lúc đó là thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng của GCCN và nhân dân Việt Nam.

Mùa xuân năm 1930, bằng uy tín và kinh nghiệm của mình, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đã tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Ðảng Cộng sản Việt Nam, mở ra bước ngoặt trọng đại cho cách mạng Việt Nam. Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời, gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt mới về sau trong lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Xây dựng, rèn luyện Đảng ta thành một đảng kiên cường, trong sạch, vững mạnh

Trước hết, để xây dựng Đảng ta thành một đảng vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết sáng tạo, khôn khéo yếu tố dân tộc và giai cấp. Người xác định: Đảng ta là Đảng của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; Đảng là đội tiên phong của GCCN, đồng thời cũng là đội tiên phong cách mạng của dân tộc. Quan điểm này là một sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã được cụ thể hóa vào thực tiễn sinh động của phong trào công nhân và cách mạng Việt Nam. Do vậy, trong xây dựng Đảng, không phải chỉ có GCCN mà cả nhân dân lao động và toàn dân tộc đều tham gia. Điều này thực sự là niềm tự hào của Đảng ta, không phải đảng nào cũng có được.

Tiếp đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành xây dựng, rèn luyện Đảng về mọi mặt, từ tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức đến phương thức lãnh đạo. Về tư tưởng chính trị, Người khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy... Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (3). Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ: Nắm vững và thực hiện nguyên tắc này không phải theo cách giáo điều, mà phải vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với những điều kiện của Việt Nam, giải quyết những vấn đề cụ thể của cách mạng Việt Nam.

Về tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi phải thường xuyên kiện toàn bộ máy của Đảng trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Khi kiện toàn, phải chú ý tổ chức bộ máy, đồng thời xác định cơ chế hoạt động của bộ máy Đảng từ trung ương đến cơ sở nhằm phát huy cao nhất vai trò nền tảng của tổ chức cơ sở đảng và vai trò quyết định của tổ chức lãnh đạo cao nhất trong xây dựng, rèn luyện Đảng về tổ chức. Mặt khác, Người rất chú ý tới mối quan hệ giữa bộ máy và con người trong kiện toàn tổ chức, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt và người đứng đầu bộ máy.

Về đạo đức, chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức cách mạng là cái “gốc” của người cán bộ, đảng viên. Đạo đức của người cán bộ cách mạng được thể hiện trước hết ở chỗ luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, trước hết, biết giải quyết đúng đắn giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của giai cấp, của dân tộc. Đạo đức cách mạng là sống lành mạnh, trong sạch, không xa hoa, lãng phí, không hủ hoá, tham ô, không đặc quyền đặc lợi. “Đạo đức cách mạng là bất kì ở cương vị nào, bất kì làm công việc gì, đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân...” (4).

Về phương thức lãnh đạo, đây là yếu tố có quan hệ trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của cách mạng, đến sức mạnh và sự tồn vong của Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của GCCN, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, Đảng không có lợi ích riêng mà chỉ có một lợi ích vì độc lập tự do của dân tộc, ấm no hạnh phúc của nhân dân mà phấn đấu hy sinh. Do đó, lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến của quần chúng, bám sát quần chúng, bám sát thực tiễn để ra các quyết định lãnh đạo. Đó là ý thức, tư tưởng của Hồ Chí Minh và cũng là hoạt động thực tiễn cách mạng của Người về phương thức lãnh đạo của Đảng.

Xuất phát từ thực tiễn cụ thể ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nghiêm túc và sáng tạo những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng. Trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc quyết định sức mạnh của Đảng. Cùng với đó, trong sinh hoạt Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh và tự giác; nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng. Ngoài ra, để Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, trong quá trình xây dựng, rèn luyện Đảng, Hồ Chí Minh đề ra phải thực hiện thật tốt công tác kiểm tra của Đảng. Theo Người, lãnh đạo mà không kiểm tra tức là không lãnh đạo; kiểm tra tốt thì bao nhiêu ưu điểm, khuyết điểm, đều thấy rõ; kiểm tra phải toàn diện và mọi sai lầm, khuyết điểm phải xử lý nghiêm minh, kịp thời...

Lãnh đạo Đảng ta, nhân dân ta viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta trở thành đội tiền phong của GCCN, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; đã phát huy bản lĩnh và trí tuệ của mình, lãnh đạo nhân dân làm nên những kỳ tích.

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra mục tiêu, đường lối, chiến lược cách mạng đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử dân tộc và thời đại, đáp ứng được những đòi hỏi và nguyện vọng cấp bách nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam. Từ một đảng mới 15 năm tuổi, chỉ với khoảng 5.000 đảng viên, đã kịp thời đặt ra và giải quyết thành công nhiều vấn đề giữa nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, giữa mục tiêu dân tộc và mục tiêu dân chủ, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra thời đại mới trong lịch sử của dân tộc.

Trong hai cuộc chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975), vai trò lãnh đạo của Đảng tiếp tục được khẳng định bằng đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo; bằng sự dấn thân, hy sinh của những đảng viên trên những mặt trận gian khổ nhất; bằng thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng sinh tử mà không lực lượng chính trị nào có thể thay thế được. Đảng đã giành chính quyền và giữ chính quyền, từng bước lãnh đạo dân tộc vượt qua thử thách hiểm nghèo, tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã từng bước gặt hái đươc nhiều kết quả quan trọng: kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao, tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao...

Những kết quả trên có được là do Đảng đã kiên trì đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, luôn lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; không ngừng bổ sung, phát triển cương lĩnh, đường lối cho phù hợp bối cảnh đất nước trong từng giai đoạn lịch sử; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất, đọc tại Lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 9/9/1969) đã nhấn mạnh: “Hồ Chủ tịch là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, là người xây dựng nền Cộng hòa dân chủ Việt Nam và Mặt trận Dân tộc thống nhất, là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta…”.

Theo TTXVN
----------
(1), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tập 2, tr.289
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15, tr.391
(4) Sđd, tập 13, tr.90