Khai thác lợi thế phát triển nuôi tôm nước lợ

(NTO) Tỉnh ta có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi tôm nước lợ, với tổng diện tích khoảng 1.000 ha, tổng sản lượng 9.000 tấn/năm. Con tôm luôn mang lại thu nhập cao cho hộ nuôi và doanh nghiệp, song cũng tồn tại nhiều rủi ro do dịch bệnh. Nuôi tôm nước lợ vì thế phải khắc phục được hạn chế về ô nhiễm môi trường mặt nước để phát triển bền vững.

Nhìn lại nghề nuôi tôm nước lợ ở tỉnh ta có thể thấy chỉ phát triển mạnh khi phong trào nuôi trên cát với đối tượng chính là tôm thẻ chân trắng hình thành từ năm 2000. Tiên phong thực hiện mô hình là ông Tu Thanh Hường ở thôn Từ Thiện, xã Phước Dinh (Thuận Nam) đã đầu tư nuôi 3 ha tôm trải bạt đáy đìa, đạt sản lượng cao gấp đôi so với nuôi trong ao đất. Do lợi nhuận cao, nên mô hình nhanh chóng được nhân rộng từ vài héc-ta ban đầu đến nay tăng lên hàng trăm héc-ta. Ngoài An Hải (Ninh Phước), Phước Dinh (Thuận Nam) - những nơi được xem là “thủ phủ” của tôm thẻ chân trắng thì hiện nay các hộ dân sống quanh Đầm Nại (Ninh Hải) vốn lâu nay chỉ quen nuôi tôm sú cũng cải tạo đìa nuôi tôm thẻ với kỳ vọng làm giàu nhanh.

 

Nông dân An Hải (Ninh Phước) nuôi tôm thẻ chân trắng theo tiêu chuẩn VietGAP
cho thu nhập cao.

Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt, khi nghề nuôi tôm phát triển ồ ạt một cách tự phát đã nảy sinh hệ lụy là môi trường bị ô nhiễm, thời điểm trước năm 2010 có những hộ nuôi mất trắng, phải “treo đìa” nhiều vụ liền. Để khôi phục, phát triển nghề nuôi tôm nước lợ, năm 2011, ngành Nông nghiệp triển khai Dự án Hỗ trợ xây dựng mô hình nuôi tôm theo tiêu chuẩn VietGAP đã hạn chế được dịch bệnh, đạt năng suất và chất lượng cao. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng nuôi tôm công nghệ cao, tiêu biểu như kỹ thuật dùng lưới che ao nuôi tránh vật trung gian (chim trời) khuếch tán mầm bệnh, xây tường quanh ao hạn chế cát bụi, nên trong điều kiện thời tiết nắng gió quanh năm như ở tỉnh ta tôm vẫn phát triển bình thường. Đặc biệt, mô hình nuôi tôm sú kết hợp hải sâm và rong nho do Trung tâm Khuyến nông tỉnh vừa triển khai thành công tại xã Phương Hải (Ninh Hải) đã làm hồi sinh cả vùng nuôi rộng lớn quanh khu vực Đầm Nại.

Có thể nói, hoạt động ứng dụng công nghệ cao vào nuôi tôm nước lợ đang được các địa phương triển khai mạnh đã khai thác được tiềm năng, lợi thế biển. Từ đầu năm 2017 đến nay có hàng chục ao được cải tạo, đầu tư hệ thống quạt nước, sục khí, lưới ngăn chim thả tôm có hiệu quả. Đáng mừng hơn, hoạt động nuôi tôm nước lợ đang dần đi vào quy củ đúng theo Quy hoạch nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2234/QĐ-UBND, ngày 1-11-2013.

Đồng chí Nguyễn Khắc Lâm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết: Quy hoạch đã đưa ra các nhóm giải pháp khắc phục những hạn chế trong nuôi tôm nước lợ theo kiểu nhỏ lẻ trước đây. Cụ thể, khu vực nuôi tôm tập trung tại Đầm Nại ổn định quy mô diện tích đến năm 2020 là 500 ha. Vùng nuôi tôm trên cát An Hải và Phước Dinh diện tích 232 ha, trong đó 200 ha khuyến khích doanh nghiệp đầu tư lại khu vực nuôi thành những trang trại áp dụng công nghệ cao. Cùng với đó, phương thức tổ chức sản xuất cũng được sắp xếp lại theo hướng liên kết tạo ra chuỗi giá trị hàng hóa có chất lượng. Điểm đáng chú ý trong chính sách “tích tụ” đất của tỉnh hứa hẹn tạo “đột phá” mới về khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển nuôi tôm nước lợ là tạo điều kiện cho doanh nghiệp mua lại đất của nông dân hoặc nông dân góp vốn bằng đất để cùng sản xuất trên quy mô lớn. Đối với vùng Đầm Nại, khuyến khích sản xuất theo hướng tập trung đất cho các hộ có đủ tiềm lực kinh tế để quy hoạch lại khu vực nuôi, trong đó, dành 20-40% diện tích cho ao chứa lắng và ao xử lý nước thải; ao nuôi thiết kế lại đủ độ sâu; đồng thời, đầu tư thiết bị để nâng cao năng suất từ đó tăng hiệu quả sử dụng đất.

Với hướng đi thích hợp, tin rằng nghề nuôi tôm nước lợ sẽ phát triển lên tầm cao mới, góp phần hoàn thành chỉ tiêu đến năm 2020 tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 18-20 ngàn tấn/năm như Nghị quyết số 07-NQ/TU, ngày 26-10-2016 về phát triển kinh tế biển của Tỉnh ủy đề ra.