Về vấn đề pháp chế trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt nam hiện nay

(NTO) Pháp chế xã hội chủ nghĩa, hiểu một cách chung nhất là chế độ của đời sống chính trị - xã hội trong đó nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; các cơ quan, đơn vị, tổ chức và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý.

Từ cách hiểu trên, Pháp chế xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm cơ bản là Pháp chế xã hội chủ nghĩa không chỉ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, mà còn là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội và các đoàn thể quần chúng và là nguyên tắc xử sự của mọi công dân. Đồng thời, Pháp chế xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Chính vì thế, Pháp chế xã hội chủ nghĩa yêu cầu Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải quản lý xã hội bằng pháp luật. Các cơ quan, công chức trong Bộ máy nhà nước phải thể hiện trách nhiệm của mình trong việc thực hiện pháp luật trong toàn bộ đời sống xã hội. Các tổ chức khác phải tham gia phối hợp cùng nhà nước trong việc tổ chức thực hiện pháp luật, động viên, giáo dục các thành viên trong tổ chức mình thực hiện pháp luật. Các đơn vị kinh tế được bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật. Các cơ quan Tư pháp của Nhà nước bảo vệ pháp luật thường xuyên, kịp thời và mọi công dân phải nâng cao ý thức pháp luật

Về thực chất, nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức và vận hành quyền lực công cộng theo các nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, phục tùng tính tối cao của pháp luật, phân công quyền năng, bảo vệ nhân quyền, dân chủ và công bằng.

Ở Việt Nam, lần đầu tiên Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năn 2001 đã khẳng định tại Điều 2: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Qua đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sáu đặc trưng cơ bản: Là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công rành mạch và sự phối hợp chặt chẽ và sự kiểm soát giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội; tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự giám sát và phản biện xã hội của nhân dân.

Như vậy, giữa việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ sâu sắc và có liên quan mật thiết với nhau. Muốn xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì nhà nước đó phải xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ và hiệu quả, mà trước hết là Hiến pháp, văn bản luật cơ bản, văn bản luật gốc của hệ thống pháp luật. Bởi vì pháp luật là công cụ cơ bản và quan trọng nhất để nhà nước quản lý xã hội. Quan trọng hơn, hệ thống pháp luật đó phải thể hiện ý chí của nhân dân vì suy cho cùng, chính nhân dân là chủ thể quan trọng nhất, chủ yếu nhất trong việc thực hiện pháp luật, mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đều trên cơ sở ý chí và lợi ích của nhân dân. Chỉ khi nhân dân tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác thì khi đó, hệ thống pháp luật mới thực sự có hiệu lực, có hiệu quả và đó chính là nội dung của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì Nhà nước đó cần phải tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường thực hiện và mở rộng dân chủ trong đời sống xã hội. Đó cũng chính là mục tiêu hướng tới của Pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Trong lịch sử lập hiến ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1980, Điều 12 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” cho đến Hiến pháp năm 1992, Điều 12 và Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 cũng Điều 12 đều quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, rõ ràng, pháp chế xã hội chủ nghĩa đã thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội ở Việt Nam và chắc chắn, pháp chế xã hội chủ nghĩa sẽ còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã không quy định vấn đề pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Từ những nội dung trao đổi trên, tôi đề nghị trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay cần tiếp tục xác định rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với đời sống chính trị, xã hội, xác định pháp chế xã hội chủ nghĩa là vấn đề hiến định và bổ sung nội dung về pháp chế xã hội chủ nghĩa vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.