Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên

LTS: Chỉ tính trong vòng 10 năm trở lại đây (2002-2012) đời sống, kinh tế -xã hội vùng Tây Nguyên đã có bước đổi thay, phát triển đáng kể. Đó là nhờ sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo sâu sát của Ban chỉ đạo Tây Nguyên, sự cố gắng vươn lên trong sản xuất và đời sống của bà con đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Báo điện tử Ninh Thuận giới thiệu một số thành tựu đã đạt được qua thời gian nói trên.

Những thành tựu về phát triển kinh tế 

Với sự quan tâm đầu tư của Trung ương và nỗ lực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đồng bào các dân tộc, vùng Tây Nguyên liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng. Thu nhập bình quân đầu người so với cả nước được thu hẹp khoảng cách khá nhanh; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. 

Các ngành, lĩnh vực sản xuất phát triển ổn định. Trong đó, nông nghiệp chuyển biến vượt bậc theo hướng mở rộng diện tích và đầu tư thâm canh cây công nghiệp dài ngày có nhu cầu thị trường cao, tạo ra khối lượng hàng hòa lớn có lợi thế cạnh tranh trong tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; hình thành một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc bước đầu phát huy thế mạnh. Kinh tế trang trại phát triển nhanh, từng bước hội nhập theo hướng sản xuất hàng hóa. Đã hoàn thành chương trình trồng mới 100 nghìn hécta cao su.

- Kinh tế lâm nghiệp chuyển từ khai thác gỗ rừng tự nhiên là chính sang trồng mới, khoanh nuôi, giao khoán bảo vệ rừng, kết hợp với khai thác lâm sản, góp phần duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 54%, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường.

- Sản xuất công nghiệp thay đổi lớn cả về quy mô và chất lượng sản xuất; xuất hiện một số ngành công nghiệp mới (thủy điện, khai khoáng, vật liệu xây dựng, chế biến nông sản xuất khẩu…). Đã phát triển hàng trăm xí nghiệp công nghiệp và nhiều nhà máy thủy điện (tổng công suất 2.100 MW), góp phần đưa tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân cả thời kỳ đạt 18% và giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 tăng 4,3 lần năm 2001.

- Dịch vụ sản xuất, tiêu dùng của nhân dân và các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch đều phát triển nhanh; giữ được vai trò chi phối các thành phần kinh tế nhà nước trong bán buôn các hàng hóa, vật tư chiến lược. Công tác cung ứng hàng hóa cho dân cư vùng sâu, vùng xa có nhiều tiến bộ. Hoạt động xuất nhập khẩu từng bước mở rộng thị trường và tăng dần xuất khẩu trực tiếp. Tiềm năng du lịch bước đầu được chú ý khai thác, mức doanh thu xã hội từ du lịch tăng bình quân khoảng 15%/năm. Thành phố Đà Lạt tiếp tục là một trung tâm du lịch lớn có hoạt động và doanh thu ngày càng tăng.

Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội có bước phát triển. Hệ thống đường sá đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp, hình thành mạng lưới rộng khắp. Về thủy lợi, đã xây dựng, tu bổ 1.560 công trình hồ chứa, đập dâng và hệ thống kênh mương, nâng năng lực tưới lên gấp ba lần so với năm 2001; xây dựng hàng trăm công trình thủy lợi vừa và nhỏ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đầu tư thích đáng vào hạ tầng đô thị; nâng cấp 2 đô thị loại 1, thành lập 2 thành phố, 4 thị xã; phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các thành phố, thị xã, thị trấn. Từng bước hiện đại hóa mạng lưới bưu chính - viễn thông; hoàn chỉnh lưới điện và hệ thống cấp nước ở các thành phố, thị xã. Quan tâm đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn. 

Quan tâm chính sách dân tộc, văn hóa – xã hội

Cùng với chính sách phát triển miền núi trong cả nước. Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào DTTS Tây Nguyên, trên cơ sở tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách về đất đai, nhà ở, giao rừng, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc.

- Đã dành một nguồn lực khá lớn từ Chương trình 168, 135 và các chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn và định canh định cư cho đồng bào DTTS gắn với việc tổ chức lại sản xuất.

- Chương trình 132, 134 về giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào là một trong những chủ trương đột phá, có ý nghĩa về kinh tế, xã hội sâu sắc, đã được triển khai liên tục từ năm 2002 đến nay, giải quyết được 639 ha đất ở cho 15.470 hộ và 29.200 ha đất sản xuất cho 56 nghìn hộ. Riêng Chương ttrình 134 đã làm mới, sửa chữa 58.249 căn nhà, cấp nước sinh hoạt 78 nghìn hộ, giải quyết 5.726 ha đất sản xuất cho 16.934 hộ. Đã thí điểm giao khoán 116.470 ha rừng cho 7.320 hộ thiếu đất sản xuất (theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg).

Công tác giảm nghèo đã được cả hệ thống chính trị tập trung chăm lo, triển khai liên tục, rộng khắp, bằng nhiều giải pháp và đạt những kết quả rất quan trọng. Riêng trong vùng DTTS, đã lồng ghép nhiều dự án, chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Tổ chức tốt phong trào “ngày vì người nghèo”, huy động sức mạnh của toàn dân, của cộng đồng xã hội, giúp đỡ thiết thực những gia đình nghèo, địa phương nghèo. Đã xuất hiện nhiều mô hình mới, cách làm hay, tạo được bước đột phá trên một số lĩnh vực và đang trở thành những phong trào hiệu quả; như mô hình chăn nuôi hộ gia đình; mô hình liên kết với doanh nghiệp; thu hút lao động DTTS vào các nông, lâm trường; cho vay vốn hỗ trợ lãi suất trồng cao su tiểu điền; đào tạo nghề, tạo việc làm tại chỗ… Nhờ vậy, mỗi năm vùng DTTS giảm được 4,6 – 4,8% hộ nghèo. Chất lượng giảm nghèo từng bước nâng lên, từ chỗ giải quyết vấn đề ăn mặc, cứu đói, cứu rét là chủ yếu, đã tiến tới giải quyết vấn đề đất đai, việc làm, sinh kế, từng bước cải thiện hạ tầng, nhà ở và cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần để giảm nghèo bền vững hơn.

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo đạt được nhiều thành tựu: Đã phát triển mạnh hệ thống giáo dục - đào tạo; thành lập mới và mở rộng nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, cơ sở đào tạo nghề và nuôi dạy trẻ khuyết tật. Mạng lưới trường, lớp của bậc học mẫu giáo và phổ thông được phân bổ ngày càng hợp lý; cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên tăng nhanh. Đến nay, 99,35% số xã, phường đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở; 16,9% số trường học đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi mẫu giáo đến trường đạt 71,5%, tiểu học 97%. Trong vùng DTTS, nhận thức về giáo dục có chuyển biến rõ nét; tỷ lệ học sinh luôn duy trì ở mức cao; đã mở rộng hệ thống trường lớp đến khắp các buôn làng với phương châm có dân sinh là có trường lớp và cơ bản đảm bảo đủ giáo viên; sách vở; đồ dùng dạy học. Đã hình thành 484 trung tâm học tập cộng đồng; xây dựng, nâng cấp 53 trường phổ thông dân tộc nội trú. Mô hình bán trú dân nuôi không ngừng mở rộng. Việc dạy tiếng DTTS cho học sinh được quan tâm. Cả 5 tỉnh đều có chính sách ưu đãi, hỗ trợ học sinh, sinh viên DTTS với khả năng cao nhất.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Cơ sở vật chất của ngành Y tế đã tăng gấp 3 lần, hình thành hệ thống cơ sở y tế rộng khắp. 100% số xã có trạm y tế. Đội ngũ cán bộ được tăng cường, số nhân viên y tế thôn, buôn không ngừng tăng lên, trên 96% số xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi. Tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng, Đăk Lăk có tỷ lệ bác sĩ tuyến cơ sở cao trong cả nước. Đến nay, đã có 66,25% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế; một số chỉ tiêu chuyên môn về y tế đạt khá. Riêng trong vùng DTTS, tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng, số phụ nữ đến sinh tại trạm xá ngày càng tăng. Các dịch bệnh thường lưu hành (sốt rét, phong, lao, bướu cổ, dịch tả, dịch hạch…) đã được khống chế. Công tác khám, chữa bệnh miễn phí (theo QĐ 139/2002/QĐ-TTg) đã được quan tâm và cải tiến về thủ tục, tạo thuận lợi cho đồng bào đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập.

Quan tâm xây dựng đời sống văn hóa ở buôn làng, phát huy văn hóa truyền thống, kế thừa có chọn lọc những giá trị tiêu biểu, loại bỏ dần hủ tục, hình thành nếp sống văn minh, gia đình văn hóa. Đến nay, đã xây dựng 1.353 nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng, 733 nhà rông văn hóa. Các đài phát thanh, truyền hình địa phương đã phát ổn định với thời lượng khá lớn nhiều thứ tiếng DTTS (Ê–đê, Ba-na, Gia-rai, Xơ-đăng, Cơ-ho, M’nông). Thực hiện chủ trương cấp một số loại báo, tạp chí, tặng máy thu hình, thu thanh cho các buôn làng dận tộc thiểu số. Nhà nước đã đầu tư hàng chục tỷ đồng nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian; phục hồi di sản văn hóa cồng chiêng, tổ chức biên soạn luật tục của các dân tộc; khuyến khích bảo tồn các buôn làng cổ truyền, phát triển nghề thủ công và khôi phục các lễ hội văn hóa.

Mức độ hiểu biết, đùm bọc, hỗ trợ lẫn nhau giữa cộng đồng các dân tộc đã được củng cố. Những năm gần đây, phong trào tương trợ, kết nghĩa phát triển rộng khắp và trở thành việc làm tự giác. Hàng nghìn cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và cán bộ, nhân dân vùng đồng bào Kinh đã đóng góp công sức, tiền của giúp đỡ các buôn, làng DTTS tại chỗ phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Nhiều nơi hỗ trợ giống, phân bón, lương thực, thuốc chữa bệnh; làm cầu, đường, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, chuyển giao kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt cho các buôn, làng. Đội ngũ cán bộ người Kinh công tác ở vùng DTTS được giáo dục về chính sách dân tộc, học tiếng DTTS, hiểu phong tục, tập quán của đồng bào. Mối quan hệ Kinh – Thượng và đoàn kết dân tộc được củng cố.

Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh

Trong 10 năm qua, cùng với việc chia tách, điều chỉnh các đơn vị hành chính từ tỉnh đến cơ sở, các tỉnh Tậy Nguyên đã có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung xây dựng, củng cố, kiện toàn bộ máy đảng, chính quyền, đoàn thể cơ sở và chuyển trọng tâm hoạt động xuống địa bàn dân cư. Đã huy động hàng nghìn cán bộ tham gia công tác dân vận, giúp cơ sở nắm dân, nắm tình hình. Tập trung phát triển đảng viên, thu hẹp số buôn làng chưa có đảng viên và tổ chức đảng, không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền cơ sở, nhất là ở những địa bàn khó khăn phức tạp.

Thực hiện Quyết định số 253/QĐ-TTg ngày 5-3-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Một số giải pháp củng cố kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên” giai đoạn 2002-2010, đã tập trung đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cho gần 8 vạn lượt cán bộ xã, buôn làng dưới nhiều hình thức (trong đó 13 nghìn người được đào tạo trung cấp thuộc nhiều chuyên ngành và gần 65 nghìn người được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ); qua đó đã nâng dần trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Bộ máy chính quyền được tập trung chấn chỉnh, kiện toàn, từng bước chuẩn hóa cán bộ theo quy định của Chính phủ. Nhiều tỉnh đã vận động chính sách, chủ động bổ sung các chức danh làm việc tại xã theo yêu cầu thực tế; tuyển sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về làm việc để nâng dần trình độ đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ dự nguồn cấp xã. Việc đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị làm việc của cấp xã được quan tâm, từng bước vận dụng, điều chỉnh hợp lý chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ không chuyên trách và cán bộ buôn làng.

Công tác quy hoạch, tạo nguồn, sử dụng đội ngũ cán bộ người DTTS đã được quan tâm. Thực hiện chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các tỉnh Tây Nguyên đã quy hoạch trên 11.000 lượt cán bộ cơ sở (có 2.600 người DTTS). Hiện nay, trong HĐND cấp xã, đại biểu người DTTS chiếm 37,6%; trong cơ cấu Đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể cấp xã có 29,06% cán bộ, công chức là người DTTS. Đội ngũ cán bộ chủ chốt là người DTTS ở thôn, buôn chiếm 28,32%. Đồng thời có chính sách, chế độ ưu tiên đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ người DTTS.

Mặt trận và các đoàn thể đã tích cực củng cố tổ chức, thu hút đoàn viên, hội viên; từng bước đổi mới phương thức, nội dung hoạt động, gần dân sát dân; triển khai nhiều chương trình hoạt động thiết thực, hiệu quả trong vùng đồng bào DTTS, tạo nên phong trào tương thân tương ái, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Công tác xây dựng buôn, làng đã được chú ý, nhất là xây dựng quy ước, hương ước và tổ chức phong trào tự quản về an ninh trật tự, đề cao vai trò của già làng, trưởng buôn, trưởng các dòng họ, người có uy tín trong công tác giáo dục, vận động quần chúng.

Định hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên từ nay đến năm 2020

Với quan điểm phát triển vùng Tây Nguyên toàn diện, bền vững phải trên nền tảng bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, xã hội; bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới. Gắn phát triển kinh tế với xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Quán triệt sâu sắc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; có những chủ trương, giải pháp phù hợp với đặc thù về địa lý, lịch sử, văn hóa, xã hội để thúc đẩy sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các DTTS.

Tiếp tục đổi mới quan điểm, nhận thức về khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng Tây Nguyên trên cơ sở đầu tư phát triển vào chiều sâu, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên rừng và đất đai nhằm bảo đảm sản xuất và không gian sinh sống của các buôn làng DTTS, bảo vệ môi trường sinh thái, vì sự bền vững không chỉ của Tây Nguyên mà cả toàn khu vực và các thế hệ mai sau. Coi trọng nhân tố tiềm lực con người và khoa học công nghệ; gắn phát triển kinh tế với nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực; gắn sản xuất với khoa học công nghệ, nhất là ở vùng DTTS.

Phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, trước hết là hệ thống chính trị cơ sở; để bảo đảm gần dân, thực sự gắn với dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ xã, buôn làng người dân tộc thiểu số tại chỗ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, năng lực vận động quần chúng là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định vững chắc, lâu dài.

Mục tiêu đặt ra đó là tổ chức khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của vùng, xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế trọng điểm, nhất là giai đoạn 2011-2015 – bước chuyển rất quan trọng của cả thời kỳ 2011-2020; có lực lượng sản xuất phát triển ở mức trung bình của cả nước; có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc; đóng vai trò “đầu tàu” trong khu vực “Tam giác phát triển” Việt Nam – Lào – Campuchia. Đầu tư phát triển toàn diện nông thôn, sớm đưa nông thôn vùng Tây Nguyên thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để đi dần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lên ngang với mức trung bình của cả nước. Tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị, xã hội; ngăn chặn âm mưu phục hồi tổ chức, phát triển lực lượng FULRO ngay khi mới nhen nhóm, đập tam âm mưu thành lập “Nhà nước Dêga”, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn chính trị.

Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về phát triển kinh tế

- Phát huy lợi thế về đất đai, đưa nông nghiệp phát triển theo chiều sâu và đa dạng hóa, trong đó ưu tiên phát triển cây công nghiệp dài ngày; nghiên cứu xây dựng chính sách đồng bộ về sản xuất, tiêu thụ cà phê; mở rộng các tập đoàn cây trồng, vật nuôi nhiệt đới và một số cây con có nguồn gốc ôn đới ở quy mô thương mại; phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc. Chuyển tăng trưởng từ số lượng sang tăng trưởng về giá trị; gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và xuất khẩu; bảo đảm an ninh lương thực.

- Đẩy mạnh sản xuất kinh doanh tổng hợp nghề rừng, tổ chức khai thác tốt diện tích rừng hiện có, bảo đảm yêu cầu về tái sinh rừng, bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật quý hiếm. Nâng độ che phủ rừng lên khoảng 56% vào năm 2015 và 58% vào năm 2020. Nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung và cụ thể hóa các chính sách, pháp luật về rừng, xây dựng hệ thống quản lý rừng theo hình thức lâm nghiệp cộng đồng trên cơ sở giao rừng cho hộ gia đình, nhóm hộ, buôn làng, tạo động lực lâu dài cho người dân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng.

- Tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông, lâm sản dựa vào các sản phẩm chủ lực (cao su, cà phê, bông vải, chè, điều, mía, sắn và các sản phẩm từ chăn nuôi). Đầu tư mở rộng mạng lưới nhà máy chế biến cao su, cà phê… theo hướng hiện đại, đạt tầm khu vực và quốc tế. Từng bước đa dạng hóa phương thức đầu tư kinh doanh phát triển thủy điện. Nghiên cứu, lựa chọn các phương án để đầu tư phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, luyện alumin, điện phân nhôm trở thành ngành công nghiệp mới có hiệu quả kinh tế cao và gắn với bảo vệ môi trường. phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng lao động và nguyên vật liệu tại chỗ.

- Thúc đẩy phát triển thương mại dịch vụ theo hướng đa dạng, nhất là dịch vụ sản xuất, tiêu dùng của nhân dân và hoạt động xuất nhập khẩu. Từng bước hiện đại hóa bưu chính – viễn thông, mở rộng mạng lưới tín dụng – ngân hàng, đáp ứng kịp thời các nguồn vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Hiện đại hóa công nghệ thanh toán, đưa các sản phẩm dịch vụ đến với doanh nghiệp. Ưu tiên phát triển du lịch để giải quyết việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế bảo đảm du lịch có vị trí xứng đáng trong cơ cấu kinh tế của vùng.

- Thúc đẩy các chương trình hợp tác vùng “Tam giác phát triển”; hình thành các khu thương mại tự do giữa Tây Nguyên với các khu vực thuộc tiểu vùng sông Mê Kông. Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hợp tác đầu tư xây dựng hạ tầng, thủy điện, hợp tác sản xuất, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng nông sản bằng nhiều hình thức trong vùng “Tam giác phát triển”. Tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại các tỉnh Tây Nguyên với các tỉnh vùng biên của Lào và Campuchia.

- Tổ chức lại sản xuất, đời sống ở vùng đồng bào DTTS theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa trên nền tảng kinh tế nông hộ. Nghiên cứu, lựa chọn, xây dựng những mô hình làm ăn có hiệu quả, phù hợp với điều kiện đất đai, hạ tầng, tập quán của từng nơi để giúp đồng bào DTTS phát triển sản xuất, tiếp cận đầy đủ với các nguồn vốn tín dụng và dịch vụ sản xuất. Nâng cao ý thức, kiến thức và kỹ năng về sản xuất hàng hóa và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp cho người dân. Tổ chức lại mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm đến buôn làng; tăng cường công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đưa nhanh công nghệ sinh học vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất, từng bước đưa sản xuất vùng DTTS thoát ra khỏi tình trạng manh múm, nhỏ lẻ, hòa nhập vào kinh tế thị trường.

- Tập trung giải quyết căn bản vấn đề đất đai, tiếp tục ưu tiên giải quyết đủ đất sản xuất cho các hộ đồng bào DTTS thiếu đất, bảo đảm cho đồng bào sống được và làm chủ được trên mảnh đất của mình, từng bước giải quyết sự bất bình đẳng về sử dụng đất nông nghiệp giữa các bộ phận dân cư và giải quyết hài hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương với bảo đảm đất đai, ổn định sản xuất của dân cư tại chỗ. Nâng cao chất lượng công tác định canh định cư cho đồng bào DTTS tại chỗ và ổn định dân di cư tự do, thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, giảm áp lực của di dịch cư tự do đối với tài nguyên rừng và đất đai. Giải quyết đủ vốn cho các dự án tái định cư để đến năm 2015 ổn định các thôn làng, cụm dân cư, đưa các vùng dân di cư tự do hòa nhập với sự phát triển của Tây Nguyên.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, cần tập trung vào các giải pháp mang tính đột phá như tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đẩy mạnh thu hút đầu tư; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch; tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường; tiếp tục thực hiện các chính sách đặc thù ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS.

Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về văn hóa, xã hội

- Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 1,5%/năm; ổn định quy mô dân số đến năm 2015 khoảng 5,7 triệu người và 2020 khoảng 6,2 triệu người. Đến năm 2015, có 50% số đơn vị cấp huyện được công nhận phổ cập giáo dục trung học phổ thông; tiếp tục duy trì tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị dưới 3%, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 90%. Phấn đấu đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% vào năm 2015 và 55% vào năm 2020. Mỗi năm giải quyết việc làm cho 14 vạn lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 2%/năm.

- Phát triển mạnh giáo dục, đào tạo hướng vào việc hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, từng bước đầu tư nâng cấp, chuẩn hóa trường lớp, đội ngũ giáo viên. Cần có những chính sách đặc thù để nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào vùng DTTS; xây dựng chương trình giáo dục, đào tạo liên thông từ nhà trẻ, mẫu giáo đến bậc phổ thông, đại học để áp dụng cho các vùng, các địa bàn, các bộ phận dân cư kém phát triển. Mở rộng chính sách cử tuyển để đào tạo cán bộ DTTS; phát triển các loại hình nội trú, bán trú, trung tâm học tập cộng đồng; đặc biệt coi trọng ngành học mầm non. Quy hoạch phát triển hệ thống trường lớp mầm non đến tận điểm dân cư để tăng tỷ lệ các cháu được đi học mẫu giáo, tiếp cận với tiếng phổ thông và chữ DTTS trước khi vào lớp 1.

- Thực thi đồng bộ các giải pháp về phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, cải thiện cơ bản tình trạng sức khỏe dân cư; nhất là giảm nhanh tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ mắc các bệnh sốt rét, hô hấp, đường ruột và khống chế các dịch bệnh đặc thù của vùng. Thu hẹp sự chênh lệch về khả năng tiếp cận và sự thụ hưởng các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe của dân cư giữa vùng đồng bào DTTS vùng sâu, vùng xa với các khu vực khác. Phấn đấu đến năm 2015, hệ thống y tế và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân phát triển rộng khắp, đồng bộ, chất lượng cao theo hướng xã hội hóa; đạt 100% số cụm xã có phòng khám khu vực, số trạm y tế có bác sỹ, thôn buôn có y tế cộng đồng và đồng bào DTTS được khám, chữa bệnh với chất lượng tốt nhất.

- Tập trung xây dựng đời sống văn hóa mới và bảo đảm nhu cầu sinh hoạt văn hóa của đồng bào các dân tộc, trên cơ sở bảo tồn những tinh hoa văn hóa truyền thống; gìn giữ, kế thừa có chọn lọc, phát huy những giá trị tiêu biểu, loại bỏ dần hủ tục; từng bước xây dựng giá trị mới về văn hóa nghệ thuật và hình thành nếp sống văn minh, gia đình văn hóa. Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các di sản văn hóa vật thể, chữ viết của các dân tộc; khuyến khích bảo tồn các buôn, làng cổ truyền; phát triển nghề thủ công; khôi phục các lễ hội và sinh hoạt văn hóa truyền thống theo nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng.

- Quan tâm đầu tư đúng mức công tác truyền thông; hoàn chỉnh các thiết chế văn hóa ở cơ sở; nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền của các đội thông tin lưu động; tăng cường hệ thống phát thanh, truyền hình và tăng thời lượng các chương trình tiếng DTTS. Tuyên truyền vận động bằng nhiều hình thức để nâng cao nhận thức của đồng bào về chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường.

Về xây dựng hệ thống chính trị

- Kiện toàn bộ máy đảng, chính quyền cơ sở vững mạnh, gần dân, sát dân.

- Đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cấp xã, buôn làng.

- Đến năm 2013, tất cả các buôn làng đều có đảng viên; đến năm 2015, tất cả các buôn làng đều có tổ chức đảng.

- Tập trung xây dựng buôn làng vững mạnh.

Theo Đề cương Tuyên truyền của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên