Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Sáng 15/6, ngày làm việc cuối cùng của phiên chất vấn, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ đã trình bày báo cáo quan trọng làm rõ thêm một số vấn đề về điều hành kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2012 và trực tiếp trả lời các câu hỏi của đại biểu Quốc hội. Báo điện tử Ninh Thuận trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn của Phó Thủ tướng.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày Báo cáo trước Quốc hội (Ảnh: vov.vn)

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng bào cử tri cả nước,

Thay mặt Chính phủ, tôi xin chân thành cảm ơn Quốc hội đã cơ bản đồng tình với các Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội. Tại Kỳ họp này, các thành viên Chính phủ đã lắng nghe ý kiến thảo luận của các vị đại biểu Quốc hội tại tổ và tại hội trường. Đã có 128 đại biểu Quốc hội gửi 158 phiếu chất vấn với 227 câu hỏi đến Thủ tướng và các thành viên Chính phủ. Chính phủ trân trọng và nghiêm túc tiếp thu những ý kiến trí tuệ, tâm huyết và có trách nhiệm cao của các vị đại biểu Quốc hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến điều hành của Chính phủ, những ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước nêu trong Báo cáo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong hai ngày qua, đã có 4 Bộ trưởng, 10 lượt thành viên Chính phủ trực tiếp và tham gia trả lời chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội.

Sau đây, tôi xin báo cáo và giải trình thêm một số vấn đề lớn mà Quốc hội và cử tri cả nước quan tâm, chất vấn.

I. VỀ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG VÀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP

Về giải quyết mối quan hệ giữa ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát với việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và bảo đảm tăng trưởng hợp lý, tôi xin báo cáo như sau:

1. Cập nhật thông tin về chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho thấy, những tháng gần đây nền kinh tế tiếp tục có chuyển biến tích cực hơn các tháng trước, tăng trưởng GDP quý II ước đạt 4,5% cao hơn quý I (4%), tính chung tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm ước đạt 4,31%; giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,6%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,4%; tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng 20,3%[1]; lạm phát đã được kiềm chế, mức tăng giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm ước khoảng 3%, thấp nhất trong 3 năm qua[2]. Trần lãi suất huy động đã giảm còn 9%[3]; lãi suất cho vay tối đa là 13%; tăng trưởng dư nợ tín dụng từ mức âm trong những tháng đầu năm, đến tháng 5 đã bắt đầu tăng trưởng dương, hướng mạnh vào các lĩnh vực ưu tiên theo Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ. Ước 6 tháng, xuất khẩu tăng 20,8% so với cùng kỳ, nhập siêu chỉ bằng 2,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ những năm gần đây[4]; cán cân thanh toán có bước được cải thiện, dự trữ ngoại hối tăng.

Nền kinh tế nước ta từng bước vượt qua giai đoạn rất khó khăn, mặc dù trước mắt còn nhiều trở ngại, thách thức. Chính phủ chủ trương quyết tâm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát mà Đảng, Quốc hội đã đề ra, đồng thời đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, phấn đấu mức tăng trưởng GDP năm 2012 đạt khoảng 6%, lạm phát 7 - 8% và đạt mức cao nhất các chỉ tiêu đã đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội.

2. Về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng: Theo chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành chức năng đã tiến hành khảo sát đánh giá tổng hợp về tình hình khó khăn của doanh nghiệp, số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, ngừng nộp thuế, giải thể, phá sản… để có biện pháp giải quyết từ giữa năm 2011.

Trước tình hình doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP để tiếp tục tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, trong đó có các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đồng bộ, linh hoạt, từng bước hạ lãi suất tín dụng, tăng tín dụng ở mức hợp lý, giải quyết nợ xấu, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường tiêu thụ, xử lý hàng tồn kho, kích thích tổng cầu của nền kinh tế; đồng thời đã trình Quốc hội miễn, giảm thuế đối với một số đối tượng.

Cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nhiều doanh nghiệp đã chủ động cơ cấu lại đầu tư, tổ chức lại sản xuất, đổi mới quản trị, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường,... nên tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã có dấu hiệu cải thiện. Trong 5 tháng đầu năm, có khoảng 21,8 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể, tăng 9,5%, so với cùng kỳ 2011, nhưng trong tháng 5, số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể giảm khoảng 10% so với bình quân 4 tháng. Trong khi đó, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới cao hơn[5] số ngừng hoạt động, giải thể. Hàng tồn kho đã có xu hướng giảm dần, từ 34,9% của tháng 3 xuống 32,1% của tháng 4 và 29,4% của tháng 5 năm 2012.

Để thiết thực hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế, Chính phủ đang tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công; đẩy nhanh việc giải ngân gắn với quản lý chặt chẽ các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA. Tăng cường kiểm soát đối với tín dụng của hệ thống ngân hàng và thực hiện các biện pháp đồng bộ để hạ mặt bằng lãi suất phù hợp với nhịp giảm của lạm phát và biến động thị trường; đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại; thực hiện các giải pháp xử lý nhanh nợ xấu trong hệ thống ngân hàng và nợ xấu của các doanh nghiệp. Ngăn chặn tiêu cực trong hoạt động tín dụng, giải quyết nhanh các thủ tục để doanh nghiệp thực sự tiếp cận được vốn dễ dàng hơn, đồng thời vẫn bảo đảm chuẩn tín dụng. Nâng cao mức tăng dư nợ tín dụng, phấn đấu tăng bình quân khoảng 2%/tháng trong 6 tháng cuối năm để dư nợ tín dụng cả năm 2012 đạt khoảng 12 - 13%.

Như vậy, theo kế hoạch vốn nhà nước đưa vào nền kinh tế từ nay đến cuối năm bình quân mỗi tháng khoảng 21 nghìn tỷ đồng, cùng với tăng dư nợ tín dụng từ các ngân hàng thương mại sẽ góp phần tăng sức mua của nền kinh tế, giải quyết hàng tồn kho của các doanh nghiệp và thiết thực hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh; thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế.

3. Song song với những giải pháp nêu trên, Chính phủ tiếp tục triển khai các chính sách, biện pháp trung và dài hạn nhằm chuyển đổi nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững, có tính cạnh tranh cao hơn, cơ cấu lại và thúc đẩy đầu tư xã hội, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy hội nhập quốc tế, khắc phục các hạn chế, yếu kém của nền kinh tế...

Trên cơ sở Chiến lược 10 năm và Kế hoạch 5 năm, Chính phủ đã phê duyệt và chỉ đạo triển khai nhiều chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế... và khẩn trương chuẩn bị để trình Quốc hội kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2013 - 2015.

Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ sẽ hoàn chỉnh Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế theo đúng tinh thần các nghị quyết của Đảng, kết luận của Quốc hội và sẽ chỉ đạo các Bộ, cơ quan, địa phương xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, bảo đảm hiệu quả cả trước mắt và lâu dài, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho thực hiện mục tiêu phát triển dài hạn của cả nước.

II. VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ, được cử tri cả nước và nhiều vị đại biểu Quốc hội quan tâm. Về vấn đề này, Chính phủ đã có báo cáo gửi các vị đại biểu Quốc hội.

1. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nòng cốt là tập đoàn, tổng công ty đã đóng góp quan trọng cho ngân sách nhà nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, cơ bản đáp ứng được nhu cầu công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng an ninh, là một công cụ quan trọng để điều tiết kinh tế vĩ mô. Đa số tập đoàn, tổng công ty hoạt động có lãi, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao hơn mức trung bình của DNNN; là chủ lực trong việc bảo đảm các cân đối lớn, có vai trò giúp Nhà nước trong việc bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát, ổn định xã hội, ngăn ngừa suy giảm kinh tế, giữ vững tăng trưởng. Nhiều tập đoàn, tổng công ty đã thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao đầu tư những dự án trọng điểm, quan trọng phục vụ chiến lược phát triển kinh tế, xã hội dài hạn của đất nước, những dự án lớn hoặc hiệu quả về kinh tế thấp nhưng có ý nghĩa hiệu quả về xã hội rất lớn mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không làm hoặc chưa đủ khả năng làm, những dự án góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch, thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế vùng miền theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều DNNN hoạt động trong những ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác có thể làm được và hiệu quả hơn; hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực được phân bổ; quản trị doanh nghiệp đổi mới chậm, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Một số tập đoàn, tổng công ty chưa làm tốt vai trò là đầu tàu trong phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; một số tập đoàn, tổng công ty thua lỗ, hiệu quả quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, đất đai còn thấp; một số lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty tiêu cực, lãng phí, vi phạm pháp luật. Sau khi có các kết luận thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo xử lý nghiêm các sai phạm, tiêu cực gây thất thoát, lãng phí tại các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty, kể cả điều tra để truy tố theo quy định của pháp luật. Trong bối cảnh lạm phát và lãi suất tăng cao, thắt chặt tiền tệ và đầu tư để chống lạm phát, thị trường bị thu hẹp, nhiều tập đoàn và tổng công ty đang đứng trước rất nhiều khó khăn.

Chính phủ đã ban hành nhiều quy định về quản lý đối với DNNN nhưng nhiều cơ chế còn chưa khả thi, chưa đồng bộ, chưa phân định thật rõ trách nhiệm trong thực hiện quyền quản lý của chủ sở hữu; công tác kiểm tra, giám sát hiệu quả chưa cao, việc phát hiện và xử lý các vi phạm còn chậm.

2. Để khắc phục những tồn tại hạn chế, yếu kém trên đây, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý DNNN nói chung và tập đoàn, tổng công ty nói riêng, Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới DNNN mà trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty trong đó cổ phần hóa là giải pháp quan trọng; kiên quyết thoái vốn khỏi ngành nghề không phải là ngành nghề kinh doanh chính; gắn tái cơ cấu DNNN với tái cơ cấu nền kinh tế. Cơ cấu lại một số tập đoàn và tổng công ty hiện có cho phù hợp với thực trạng và yêu cầu nhiệm vụ; nghiên cứu ban hành Nghị định riêng về nhiệm vụ, tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tập đoàn, tổng công ty đặc biệt quan trọng.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước bảo đảm thực hiện thường xuyên, có hiệu quả việc theo dõi, giám sát, kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước và việc chấp hành quy định pháp luật trong quản lý, điều hành doanh nghiệp của các cán bộ quản lý; có mô hình phù hợp, hiệu quả để thực hiện được nhiệm vụ này. Trước mắt, bổ sung, sửa đổi Nghị định hiện hành để quy định cụ thể hơn việc phân công, phân cấp thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các tập đoàn và tổng công ty.

Ban hành cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước; tăng cường trách nhiệm người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhà nước tại các DNNN; hoàn thiện cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước; xây dựng cơ chế lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ phù hợp; thuê tổng giám đốc, giám đốc điều hành, thành viên hội đồng quản trị, hội đồng thành viên.

Hàng năm đánh giá việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp, trong đó chú trọng làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan, từng DNNN, đặc biệt là của Bộ quản lý ngành và cá nhân người đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp. Thông qua cơ chế theo dõi, kiểm tra và giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch sẽ kịp thời phát hiện và có biện pháp xử lý nghiêm minh các sai phạm theo quy định của pháp luật.

Chính phủ sẽ nghiên cứu và sớm ban hành tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh và thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao đối với DNNN.

3. Về Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Chính phủ đã có báo cáo gửi các vị đại biểu Quốc hội.

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, đã có giai đoạn phát triển tốt, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, trước hết là do những yếu kém, hạn chế của lãnh đạo Tổng công ty, trong mấy năm gần đây, Tổng công ty liên tục gặp nhiều khó khăn.

Những hạn chế, yếu kém trong tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh cùng những sai phạm của lãnh đạo Tổng công ty không thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng và quy định của pháp luật, gây lãng phí, thất thoát lớn vốn, tài sản của nhà nước mới được phát hiện gần đây đang là vấn đề gây bức xúc, được Quốc hội và nhân dân quan tâm. Chính phủ đã và đang chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương làm rõ, nhất là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan để xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian tới đây, Chính phủ sẽ chỉ đạo tái cơ cấu mạnh mẽ Tổng công ty, tập trung vào 3 lĩnh vực chính là vận tải biển, cảng biển và dịch vụ hàng hải, đẩy mạnh cổ phần hoá, củng cố về tổ chức, nhân sự, nâng cao năng lực quản trị, điều hành; thoái vốn tại những đơn vị không cần nắm giữ để tập trung vốn vào ngành nghề sản xuất kinh doanh chính; rà soát tổng thể các dự án đang và sẽ đầu tư để cơ cấu lại cho phù hợp điều kiện thị trường, khả năng tài chính, đầu tư có hiệu quả hơn cả trong ngắn hạn và dài hạn. Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành liên quan hỗ trợ tháo gỡ khó khăn để Tổng công ty ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, từng bước thực hiện tốt vai trò trong phát triển kinh tế biển.

III. VỀ ĐẦU TƯ CHO NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN VÀ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Quốc hội cũng đã dành nhiều thời gian thảo luận về vấn đề này.

Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, tổng vốn ngân sách và trái phiếu Chính phủ cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã tăng 1,95 lần so với trước khi có Nghị quyết. Tổng dư nợ tín dụng khu vực này đến tháng 5 năm 2012 tăng khoảng 3% so với cuối năm 2011, cao hơn nhiều so với mức tăng dư nợ tín dụng chung của nền kinh tế. Đây là sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước đối với khu vực này.

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại, nâng cao hiệu quả đầu tư công, thúc đẩy đầu tư phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tiếp thu ý kiến của Quốc hội, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:

- Tăng cường quản lý đầu tư theo quy hoạch gắn với chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nông nghiệp, nông thôn để phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa phương, khắc phục việc đầu tư dàn trải. Tăng đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ đối với sản xuất lúa, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.

- Rà soát, phân loại các dự án đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, điều chỉnh nguồn vốn và đa dạng hoá đầu tư theo các hình thức BT, BOT, PPP... để thu hút tối đa nguồn lực xã hội; đẩy mạnh xã hội hoá; khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai đầu tư.

- Hỗ trợ phổ biến và hướng dẫn áp dụng quy trình sản xuất tốt (GAP), công nghệ cao; tăng hạn mức và kéo dài kỳ hạn cho vay vốn tín dụng phù hợp với chu kỳ sản xuất của từng loại cây trồng, vật nuôi; hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường...

- Phát triển mô hình liên kết, hợp tác sản xuất giữa doanh nghiệp, nhà khoa học với các hộ nông dân. Sớm nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển và thúc đẩy nhân rộng mô hình “cánh đồng mẫu lớn”.

- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn thiết thực, hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn.

- Về vấn đề đất đai, Chính phủ sẽ chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện đúng Kết luận của Hội nghị Trung ương 5 (khoá XI); khẩn trương nghiên cứu trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật đất đai theo hướng không điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; kéo dài hơn thời hạn sử dụng đất nông nghiệp so với quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất đai, yên tâm sản xuất; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung đất đai, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp; khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay, khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai vào phát triển đất nước. Trước mắt, tại Kỳ họp này, Chính phủ trình Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết về kéo dài thời hạn sử dụng đất nông nghiệp. Trên cơ sở tổng kết thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW ngày 16 tháng 6 năm 2003 của Bộ Chính trị, Chính phủ sẽ có các giải pháp quản lý, sử dụng đất của các lâm trường quốc doanh hợp lý và hiệu quả hơn.

2. Về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Sau gần hai năm triển khai, đã hình thành một số mô hình xây dựng nông thôn mới, rút ra được nhiều kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện. Ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương thực hiện Chương trình năm 2011 là 1.600 tỷ đồng, năm 2012 là 1.700 tỷ đồng. Nhiều địa phương bước đầu đạt được kết quả đáng khích lệ. Tuy vậy, việc triển khai Chương trình còn chậm, nhất là về công tác quy hoạch và lập đề án nông thôn mới cấp xã; còn một số quy định, tiêu chí chưa phù hợp với thực tế, với từng vùng, từng địa phương; nguồn lực cho Chương trình chưa đáp ứng được yêu cầu.

Để khắc phục những tồn tại nêu trên, Chính phủ chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng nông thôn mới; tập trung nguồn lực để phấn đấu hoàn thành mục tiêu 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015; sửa đổi một số cơ chế, chính sách trong đầu tư như hỗ trợ tín dụng, có chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; điều chỉnh một số tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới cho phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương. Chính phủ sẽ cùng với các ngành, địa phương tháo gỡ khó khăn để thực hiện có hiệu quả Chương trình quan trọng này.

IV. VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Nhiều vị đại biểu Quốc hội và cử tri rất quan tâm và có ý kiến về các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề ưu đãi người có công, giảm nghèo, việc làm, phát triển nguồn nhân lực và phòng, chống tệ nạn xã hội. Tôi xin báo cáo thêm như sau:

1. Về thực hiện chính sách ưu đãi người có công: Cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, trong đó gần 1,4 triệu người đang hưởng trợ cấp hàng tháng. Chính sách ưu đãi đối với người có công luôn được Đảng, Nhà nước xem là một trọng tâm của chính sách xã hội. Để bảo đảm gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư tại nơi cư trú, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 47/2012/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công theo hướng nâng mức chuẩn trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công phù hợp với điều chỉnh mức lương tối thiểu. Chính phủ đang tích cực triển khai Nghị quyết Trung ương 5 “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”, trong đó đến hết năm 2013, giải quyết cơ bản về nhà ở đang bị xuống cấp cần sửa chữa của người có công. Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ưu đãi người có công, bảo đảm tương quan hợp lý về chính sách giữa những người có công; chỉ đạo khẩn trương giải quyết các trường hợp tồn đọng và kiên quyết xử lý những trường hợp lợi dụng, tiêu cực, làm sai chính sách.

2. Về hỗ trợ giảm nghèo: Các cấp, các ngành dành sự quan tâm lớn đến công tác xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất và đời sống cho người nghèo, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; mới đây đã nâng mức hỗ trợ hộ cận nghèo mua thẻ bảo hiểm y tế lên 70%… Tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, thời gian tới, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo triển khai tích cực Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về hỗ trợ giảm nghèo bền vững đối với các huyện nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2012 - 2015, trong đó tiếp tục tập trung nguồn lực đối với các vùng nghèo, khó khăn nhất, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, phấn đấu giảm 2% tỷ lệ hộ nghèo cả nước, riêng đối với các huyện nghèo giảm 4% như chỉ tiêu Quốc hội giao.

3. Về giải quyết việc làm: Trong điều kiện nhu cầu tuyển dụng lao động giảm, 5 tháng đầu năm cả nước mới tạo thêm được khoảng 612 nghìn việc làm, đạt 38,2% kế hoạch. Mục tiêu tạo việc làm mới cho 1,6 triệu người trong năm 2012 cần sự phấn đấu rất cao. Chính phủ sẽ tích cực tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường, khuyến khích phát triển công nghiệp, dịch vụ, tạo thêm nhiều việc làm mới. Đồng thời, tích cực triển khai các đề án, chính sách, phấn đấu năm 2012 đào tạo nghề cho 600 nghìn lao động nông thôn; tiếp tục đầu tư hệ thống cơ sở và năng lực đào tạo nghề; nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ tín dụng để người lao động tự tạo việc làm mới. Thực hiện tốt và chặt chẽ chính sách bảo hiểm thất nghiệp[6] góp phần ổn định đời sống của người lao động, đồng thời tăng cường kiểm tra, không để xảy ra tiêu cực, trục lợi từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

4. Về phát triển nguồn nhân lực: Trước yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nhiều vị đại biểu Quốc hội băn khoăn, lo ngại về thực trạng nguồn nhân lực hiện nay. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và triển khai nhiều chính sách giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và bước đầu đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên phát triển nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn lớn (khoảng 60%, đặc biệt lao động người dân tộc thiểu số là trên 90%), chất lượng đào tạo thấp, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý. Xác định phát triển nguồn nhân lực là một khâu đột phá, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực, Quy hoạch phát triển nhân lực, Chiến lược phát triển dạy nghề. Tinh thần chỉ đạo là coi trọng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Tập trung vào nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo kết hợp với mở rộng quy mô hợp lý, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo, phấn đấu đạt 55% vào năm 2015 và hướng tới mục tiêu 70% vào năm 2020.

5. Về công tác phòng, chống tệ nạn xã hội: Tệ nạn ma tuý vẫn diễn biến phức tạp, tỷ lệ lây nhiễm HIV vẫn còn cao, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Số người sử dụng ma tuý tổng hợp có xu hướng tăng nhanh, nhất là trong giới trẻ; tình trạng tái trồng cây thuốc phiện vẫn xảy ra ở một số địa phương... Tệ nạn mại dâm diễn biến phức tạp, tinh vi, xuất hiện nhiều hình thức mại dâm mới. Để tăng cường đấu tranh với các tệ nạn xã hội, Chính phủ chỉ đạo các cấp, các ngành nghiêm túc thực hiện các Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác phòng, chống AIDS; phòng, chống và kiểm soát ma tuý; các Luật, Pháp lệnh về phòng, chống ma túy, HIV/AIDS, mại dâm; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược Quốc gia về phòng, chống và kiểm soát ma tuý, HIV/AIDS, Chương trình hành động phòng chống mại dâm. Đang triển khai rộng rãi chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone.

V. VỀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI, ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1. Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai luôn được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đặc biệt quan tâm, nhiều giải pháp phòng chống đã được triển khai thực hiện và đạt kết quả tích cực, số người chết do thiên tai đã giảm đáng kể qua các năm. Tuy nhiên, thiệt hại do thiên tai gây ra hàng năm vẫn còn rất lớn. Trong 5 năm 2007 - 2011, bình quân mỗi năm thiên tai làm chết 433 người, gây thiệt hại về tài sản khoảng 14.500 tỷ đồng, tương đương gần 1% GDP. Dự báo thiên tai tiếp tục diễn biến phức tạp, với tần suất và cường độ ngày càng gia tăng.

Thời gian tới, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, trong đó tiếp tục quan tâm đầu tư nâng cao năng lực và chất lượng dự báo, cảnh báo; nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển; bảo đảm an toàn hồ chứa; xây dựng cụm tuyến dân cư vùng ngập lũ ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn II[7]; di dời dân cư vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét; xây dựng khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão[8]; nâng cao năng lực tìm kiếm cứu hộ cứu nạn; làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và đẩy mạnh quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, được quốc tế đánh giá cao; có giải pháp về nhà ở cho người dân sống ở vùng thường xuyên bị bão lũ...; chỉ đạo quyết liệt, chủ động phòng chống thiên tai theo phương châm “bốn tại chỗ”, hỗ trợ kịp thời các địa phương về lương thực, kinh phí, bảo đảm an sinh xã hội, không để người dân nào bị đói; nhanh chóng khắc phục hậu quả, từng bước khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Chính phủ sẽ tiếp tục rà soát để hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng chống thiên tai, sớm trình Quốc hội dự án Luật phòng chống thiên tai.

2. Theo nhiều dự báo, nước ta là một trong số ít nước bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Chính phủ đã thành lập Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu, do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp làm Chủ tịch. Thời gian tới, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chiến lược, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về biến đổi khí hậu; tăng cường công tác truyền thông nâng cao ý thức của toàn dân; đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phối hợp hành động, huy động thêm nhiều nguồn lực và kinh nghiệm trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.

VI. VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

1. Tại Kỳ họp này, Chính phủ đã trình Quốc hội các báo cáo chuyên đề về sơ kết 5 năm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Về vấn đề này, tôi xin báo cáo thêm như sau:

Tham nhũng, lãng phí tuy đã từng bước được kiềm chế, song vẫn còn nghiêm trọng, chưa được đẩy lùi, còn diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, nhất là trong quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý ngân sách nhà nước; thu thuế, phí; quản lý, sử dụng vốn tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; tín dụng ngân hàng; công tác cán bộ; quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp... gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Chính phủ sẽ tăng cường chỉ đạo và phối hợp tốt hơn giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử; chú trọng cả phòng và chống tham nhũng, lãng phí với tinh thần kiên quyết, kiên trì liên tục, đúng pháp luật, sớm khắc phục những hạn chế yếu kém để tạo chuyển biến rõ rệt trong thời gian tới. Trong đó trọng tâm là nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; gắn việc thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 5 về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí với triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.

Chính phủ sẽ sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật phòng, chống tham nhũng, đồng thời đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, khắc phục các sơ hở, bất cập, dễ bị lợi dụng để tham nhũng. Chính phủ trân trọng đề nghị Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng nhân dân cả nước tích cực giám sát đối với hoạt động của cán bộ, cơ quan nhà nước góp phần ngăn chặn, phát hiện, xử lý các vi phạm, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

2. Khiếu nại, tố cáo (KNTC) đang là vấn đề nổi lên được Quốc hội và cử tri quan tâm. Chính phủ đã có báo cáo chuyên đề gửi các vị đại biểu Quốc hội.

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác giải quyết KNTC của công dân trên tinh thần vừa bảo đảm lợi ích hợp pháp của người dân theo đúng quy định của pháp luật, công khai minh bạch, vừa giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, xử lý nghiêm minh những người lợi dụng khiếu nại, tố cáo để vi phạm pháp luật. Chính phủ đã tổ chức Hội nghị toàn quốc, Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2012 về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết KNTC. Thủ tướng, Phó Thủ tướng đã trực tiếp chỉ đạo xử lý một số vụ việc KNTC đông người, phức tạp, kéo dài, các vụ việc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm[9].

Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo thực hiện có hiệu quả hơn công tác giải quyết KNTC; tổ chức đối thoại với người KNTC, thực hiện công khai minh bạch, huy động sự tham gia của luật sư, các đoàn thể chính trị - xã hội trong quá trình giải quyết KNTC bảo đảm giải quyết có lý, có tình, dứt điểm từ cơ sở. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải trực tiếp chỉ đạo, giải quyết xử lý dứt điểm các vụ việc khiếu tố đông người, phức tạp, kéo dài, dư luận xã hội quan tâm; công bố công khai kết quả giải quyết kể cả trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chính phủ sẽ khẩn trương ban hành các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật khiếu nại, Luật tố cáo.

Tiếp tục chấn chỉnh công tác bồi thường, thu hồi đất, nhất là trong thực hiện cưỡng chế của các địa phương. Yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nghiêm túc rút kinh nghiệm và khắc phục các hạn chế, yếu kém trong thực hiện công tác này thời gian qua, cần phải làm tốt từ khâu quy hoạch sử dụng đất đến việc lập và triển khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bảo đảm dân chủ, công khai, đúng pháp luật, sát thực tế, nhất là đối với các dự án đầu tư khu đô thị, khu công nghiệp, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi; chú trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đồng thuận và tự giác chấp hành, trong trường hợp buộc phải cưỡng chế thì cần có phương án chặt chẽ, đúng pháp luật.

VII. VỀ KIỆN TOÀN TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ CƠ SỞ VÀ TIỀN LƯƠNG

Nhiều vị đại biểu Quốc hội cho rằng cần quan tâm hơn tới yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, tinh giản biên chế, chế độ chính sách đối với cán bộ cơ sở. Tôi xin báo cáo thêm như sau:

1. Chính phủ đang tập trung chỉ đạo việc kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các bộ, cơ quan ngang bộ theo hướng tinh gọn, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Đã tạm dừng việc thành lập mới các tổng cục thuộc bộ để có đánh giá, tổng kết mô hình quản lý này. Tiếp tục phân định rõ trách nhiệm quản lý một số lĩnh vực, công việc hiện còn giao thoa, chồng chéo giữa các bộ, ngành; khẩn trương hoàn thiện mô hình cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn của chính quyền địa phương theo hướng vừa bảo đảm quản lý thống nhất của trung ương, vừa gắn với các đặc thù của địa phương, nhằm khai thác tiềm năng, quản lý tốt các ngành, lĩnh vực đặc thù trên địa bàn, góp phần tái cơ cấu kinh tế địa phương và cả nước.

Chính phủ tiếp tục triển khai Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức, tập trung vào việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức, đổi mới phương thức tuyển chọn lãnh đạo, thi nâng ngạch công chức theo nguyên tắc cạnh tranh, cơ chế thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ công chức có tài năng trong hoạt động công vụ; đề cao trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu các cơ quan trong bộ máy hành chính. Tiếp tục xác định vị trí việc làm để có cơ sở xác định cơ cấu công chức, viên chức tối ưu, thực hiện tinh giản biên chế.

2. Trong những năm qua, số lượng cán bộ cơ sở đã được tăng cường đáng kể. Tính đến đầu năm 2012, số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước ở cơ sở đã tăng 252% so với năm 2003[10] (chiếm 33% trong tổng số đối tượng đang làm việc hưởng lương, trợ cấp, phụ cấp từ ngân sách nhà nước); trong đó số cán bộ cấp xã tăng 170%, số người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn tăng 347%. Việc triển khai thí điểm tuyển chọn 600 trí thức trẻ có trình độ đại học về làm Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thuộc các huyện nghèo cũng góp phần nâng cao chất lượng cán bộ cấp cơ sở. Các chế độ, chính sách như lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đào tạo, bồi dưỡng... cũng ngày càng được hoàn thiện đối với cả công chức chính quyền, cán bộ các cơ quan, tổ chức đảng, đoàn thể ở xã, người hoạt động không chuyên trách cấp xã và thôn, bản. Cùng với các chính sách chung của Trung ương, nhiều địa phương đã chủ động, linh hoạt áp dụng các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi nhằm thu hút, động viên đối với cán bộ cấp cơ sở. Tuy nhiên, chế độ, chính sách và chất lượng của cán bộ cơ sở đến nay vẫn còn bất cập.

Chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu để có điều chỉnh cần thiết các chính sách gắn với nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở cho phù hợp. Chính phủ đang khẩn trương xây dựng để trình Ban Bí thư Đề án về chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn và cán bộ về công tác tại địa bàn khó khăn.

3. Về vấn đề tiền lương

Thực hiện Đề án cải cách chính sách tiền lương giai đoạn 2008 - 2012, từ năm 2008 đến nay, Chính phủ đã 5 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung, đã tăng 233%[11] nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Chính sách tiền lương chưa động viên được cán bộ, công chức, người lao động gắn bó, tận tâm với công việc và còn nhiều tồn tại khác như các vị đại biểu Quốc hội đã nêu.

Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khoá XI), Chính phủ đang khẩn trương xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương theo hướng tăng dần mức lương tối thiểu trên cơ sở đổi mới hoạt động sự nghiệp công, đẩy mạnh cải cách hành chính, thu gọn đầu mối, tinh giản biên chế; có giải pháp tổng thể về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở. Chính phủ sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo hướng điều chỉnh chế độ cho phù hợp.

VIII. VỀ XÂY DỰNG KHU KINH TẾ QUỐC PHÒNG, ĐỒN BIÊN PHÒNG, ĐƯỜNG TUẦN TRA BIÊN GIỚI VÀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI

Tiếp thu ý kiến của một số vị đại biểu Quốc hội, tôi xin báo cáo về các vấn đề này như sau:

1. Việc củng cố và xây dựng tuyến biên giới đất liền dài hơn 4.000 km của nước ta là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược cả trước mắt và lâu dài. Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các đề án xây dựng đường tuần tra biên giới, đồn biên phòng, khu kinh tế quốc phòng đã được tập trung triển khai có kết quả.

- Về xây dựng đường tuần tra biên giới: Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Đề án quy hoạch xây dựng đường tuần tra biên giới đất liền giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo”, đã triển khai xây dựng trên địa bàn 20/25 tỉnh biên giới với tổng chiều dài là 2.016 km đường, cầu cống bằng bê tông cốt thép. Việc triển khai Đề án được thực hiện chặt chẽ, đúng tiến độ, đến hết năm 2012 cơ bản hoàn thành giai đoạn I. Chính phủ đang tích cực chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực để bảo đảm hoàn thành theo kế hoạch, góp phần thiết thực cho nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc khu vực biên giới.

- Về xây dựng đồn biên phòng: Từ năm 2000 đến nay, đã xây dựng 247/432 đồn biên phòng trên toàn tuyến biên giới, phấn đấu đến năm 2020 xây dựng 100% đồn biên phòng; quan tâm đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ tại biên giới, đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Y tế xây dựng Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả hệ thống quân dân y, bảo vệ sức khoẻ quân và dân khu vực biên giới.

- Về xây dựng khu kinh tế quốc phòng: Từ năm 2000 đến nay, đã triển khai xây dựng 22 khu kinh tế quốc phòng tại các tỉnh biên giới, đón nhận gần 85 nghìn hộ dân đến sinh sống; giúp dân tổ chức sản xuất, ổn định cuộc sống góp phần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo và bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch xây dựng và phát triển các khu kinh tế quốc phòng, theo đó đến năm 2020 sẽ đầu tư xây dựng 32 khu kinh tế quốc phòng và đầu tư chuyển tiếp 21 khu đang triển khai.

2. Về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội:

Đảng và Nhà nước luôn xác định bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ thường xuyên phải tập trung chỉ đạo. Với nỗ lực của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thời gian qua đã thu được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, tình hình vẫn diễn biến phức tạp, đòi hỏi công tác phòng chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải có sự chuyển biến mạnh mẽ hơn cả về nhận thức và hành động trong thời gian tới.

Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo hoàn thiện thể chế và thực hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tội phạm; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 130 về phòng chống buôn bán phụ nữ, Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS, ma túy, mại dâm; thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa Chính phủ với Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác cải cách tư pháp và phòng chống tội phạm; đẩy mạnh phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, gắn với thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Tiếp tục tấn công trấn áp, truy quét tội phạm, nhất là các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, ma túy, tham nhũng, các loại tội phạm nguy hiểm,... để tạo môi trường bình yên cho nhân dân, cho phát triển kinh tế - xã hội.

Chính phủ sẽ tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp trọng tâm để bảo đảm trật tự an toàn giao thông nhằm thực hiện tốt Nghị quyết của Quốc hội, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu của năm An toàn giao thông - 2012.

Thưa Quốc hội,

Thay mặt Chính phủ và đồng chí Thủ tướng, tôi xin báo cáo giải trình thêm một số vấn đề được nhiều vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước quan tâm, chất vấn. Chính phủ mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, giám sát thường xuyên của Quốc hội và nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2012.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.

Sau đây, tôi xin lắng nghe và trả lời câu hỏi của các vị đại biểu Quốc hội./.

-------------------------------------------------

[1] Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm ước đạt 952,2 nghìn tỷ đồng, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng 6,6% (cùng kỳ năm 2011 tăng 6,4%).

[2] Cùng kỳ năm 2011 tăng 12,07%; năm 2010 tăng 4,55%.

[3] Kỳ hạn 1 tháng đến dưới 12 tháng.

[4] Tỷ lệ nhập siêu 5 tháng đầu năm 2010 là 14,16% và năm 2011 là 18,11%.

[5] 30.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 5 tháng 2012.

[6] Trong 5 tháng đã có khoảng 213 nghìn người đăng ký thất nghiệp, trong đó 159 nghìn người được hưởng trợ cấp thất nghiệp; gần 100 nghìn người được tư vấn giới thiệu việc làm; hơn 1000 người được hỗ trợ học nghề.

[7] Mức nước lũ năm 2000 và năm 2011 tương đương nhau, nhưng năm 2000 chưa có cụm tuyến dân cư, nước lũ đã làm chết 539 người; năm 2011 số người chết chỉ còn 68 người.

[8] Quy hoạch khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão đến năm 2020 đã được phê duyệt, xây dựng với 131 khu neo đậu tránh trú bão cho 84.200 tàu cá (17 khu neo đậu cấp vùng và 114 khu cấp tỉnh). Đến năm 2011, đã có 08 khu neo đậu cấp vùng, 39 khu neo đậu cấp tỉnh được đầu tư, trong đó 5 khu neo đậu cấp vùng, 18 khu neo đậu cấp tỉnh đã hoàn thành đưa vào sử dụng bảo đảm chỗ neo đậu cho 20.700 tàu.

[9] Điển hình như: Vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng, vụ khiếu kiện ở Văn Giang, Hưng Yên, các vụ khiếu kiện đông người ở Hà Nội, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh v.v.

[10] Số cán bộ, công chức cấp cơ sở tăng từ 545.645 người (năm 2003) lên đến 1.375.069 người (năm 2012); trong đó, số cán bộ, công chức cấp xã tăng từ 151.383 lên đến 256.608; số người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn tăng từ 286.139 lên đến 994.267. Tổng số người hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước năm 2012 (không kể người có công, hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH) là 4.124.742 người.

[11] Trong khi lương tối thiểu tăng 233% từ 450.000 đồng/tháng (1/2008) lên 1.050.000 đồng/tháng (5/2012), thì chỉ số giá tiêu dùng từ tháng 1/2008 đến tháng 5/2012 tăng 173,9%.

Nguồn Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam